Không phải doanh nghiệp nào cũng cần một cách hỗ trợ
Sau gần 10 năm thực hiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, thực tế cho thấy không phải chính sách hỗ trợ nào cũng đến đúng nhu cầu của doanh nghiệp. Theo Tờ trình của Chính phủ, phương thức hỗ trợ còn bất cập, cơ chế giám sát, đánh giá chưa đồng bộ và hệ sinh thái hỗ trợ còn phân tán.
Dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vì thế đang được thiết kế theo hướng thay đổi cách Nhà nước tiếp cận doanh nghiệp: Từ hỗ trợ theo cơ chế tương đối đồng loạt sang thiết kế công cụ sát hơn với nhu cầu và quá trình phát triển của từng nhóm doanh nghiệp.
Một điểm đáng chú ý là dự thảo đưa vào hình thức phiếu hỗ trợ (voucher). Theo dự thảo, đây là khoản hỗ trợ tài chính từ ngân sách để doanh nghiệp chi trả một phần chi phí sử dụng dịch vụ hỗ trợ. Voucher có thời hạn và không được chuyển nhượng.

Cách làm này đáng chú ý ở chỗ doanh nghiệp có thêm quyền lựa chọn dịch vụ phù hợp thay vì Nhà nước quyết định toàn bộ nội dung hỗ trợ. Tại phiên thảo luận ngày 28/9, đại biểu Tô Ái Vang đề nghị tiếp tục số hóa việc cấp, quản lý và thanh quyết toán phiếu hỗ trợ, trong đó Nhà nước có thể thanh toán trực tiếp cho đơn vị cung cấp dịch vụ trên cơ sở kết quả nghiệm thu của doanh nghiệp.
Nếu được thiết kế chặt chẽ, cơ chế này có thể chuyển trọng tâm từ câu hỏi “đã giải ngân bao nhiêu tiền hỗ trợ” sang “doanh nghiệp nhận được dịch vụ gì và năng lực có được cải thiện hay không”.
Dự thảo cũng xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa gồm những doanh nghiệp có không quá 300 lao động và đáp ứng một trong hai tiêu chí về nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng hoặc doanh thu năm trước liền kề không quá 400 tỷ đồng. Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, với tiêu chí này, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 98,4% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động.
Quy mô đối tượng lớn khiến bài toán chính sách không chỉ là có thêm ưu đãi, mà còn phải bảo đảm nguồn lực được phân bổ đúng nơi và tạo ra hiệu quả thực chất.
Chính sách phải tạo được “đường băng” để doanh nghiệp lớn lên
Điểm đáng chú ý khác nằm ở cách dự thảo tiếp cận sự trưởng thành của doanh nghiệp. Đại biểu Tô Ái Vang đề xuất cơ chế sàng lọc tự động, theo đó doanh nghiệp vượt ngưỡng quy mô trong một khoảng thời gian nhất định có thể được đưa ra khỏi diện hỗ trợ. Mục tiêu là tập trung nguồn lực ngân sách cho những doanh nghiệp còn cần “bệ phóng”.
Tư duy này đặt ra một thay đổi quan trọng: hỗ trợ không nên trở thành trạng thái kéo dài, mà phải tạo ra một lộ trình để doanh nghiệp từng bước tự chủ.
Dự thảo hiện bao gồm nhiều nhóm hỗ trợ gắn với quá trình nâng năng lực, như chuyển đổi số, kinh doanh bền vững, tham gia chuỗi giá trị và đầu tư ra nước ngoài. Doanh nghiệp cũng được hỗ trợ một phần chi phí cho hạ tầng số, sản phẩm công nghệ số, số hóa dữ liệu, bảo vệ dữ liệu và an ninh mạng.
Như vậy, chính sách không chỉ hướng tới việc giúp doanh nghiệp giảm một khoản chi phí trước mắt, mà còn nhằm cải thiện năng lực vận hành để doanh nghiệp có thể tiếp cận thị trường lớn hơn.
Đây cũng là lý do Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh mục tiêu thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa trưởng thành là nhiệm vụ quan trọng để hướng tới tăng trưởng hai con số. Theo Bộ trưởng, chính sách hỗ trợ phải đồng thời tạo điều kiện cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, khuyến khích phát triển cả về quy mô và chất lượng, nhưng vẫn phải hài hòa với khả năng ngân sách.
Với chính sách thuế, tại phiên thảo luận, một số đại biểu đề nghị tính thời gian miễn thuế 3 năm từ khi doanh nghiệp bắt đầu có thu nhập chịu thuế thay vì tính từ thời điểm được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Đây là vấn đề cần tiếp tục cân nhắc bởi thời điểm doanh nghiệp thành lập và thời điểm bắt đầu tạo ra thu nhập có thể cách nhau khá xa.
Đáng chú ý, dự thảo cũng xác định trách nhiệm không chỉ thuộc về cơ quan Nhà nước. Doanh nghiệp phải cung cấp thông tin đầy đủ, tuân thủ pháp luật, thực hiện cam kết và bố trí nguồn lực đối ứng để tiếp nhận, sử dụng hiệu quả nguồn hỗ trợ.
Nếu được hoàn thiện theo hướng này, Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ không đơn thuần là một đạo luật về “hỗ trợ doanh nghiệp”. Quan trọng hơn, đây có thể trở thành khung chính sách tạo ra một chu kỳ trưởng thành của doanh nghiệp: được hỗ trợ khi còn yếu, được trao thêm công cụ khi mở rộng và từng bước rời khỏi chính sách hỗ trợ khi đã đủ năng lực cạnh tranh.
Đó cũng là cách để nguồn lực công không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn trước mắt, mà tạo thêm những doanh nghiệp có quy mô lớn hơn, năng suất cao hơn và khả năng tham gia sâu hơn vào nền kinh tế.
Minh Thành (t/h)























