
Hỗ trợ doanh nghiệp từ tiêu chuẩn hóa đến sản xuất thông minh
Tại kỳ họp thứ 6 (kỳ họp chuyên đề), HĐND tỉnh Lâm Đồng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND ngày 24/9/2026, quy định mức chi thực hiện Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh.
Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 5/10/2026, áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia quản lý, thực hiện các nhiệm vụ thuộc Chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, hàng hóa (Chương trình 1322).
Theo nghị quyết, ngân sách nhà nước sẽ hỗ trợ nhiều nhóm nhiệm vụ, từ thông tin, truyền thông, đào tạo nguồn nhân lực đến tiêu chuẩn hóa, đánh giá sự phù hợp và hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng.
Trong đó, công tác thông tin, truyền thông được thực hiện thông qua các sản phẩm báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, tranh, pa-nô, áp phích, băng rôn, khẩu hiệu, bảng điện tử và các hội nghị tuyên truyền, phổ biến, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm. Mức chi thực hiện theo các quy định, định mức hiện hành.
Tỉnh cũng quy định mức chi cho việc tạo lập, duy trì và khai thác cơ sở dữ liệu về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chuẩn đối sánh và thực hành tốt về năng suất, qua đó cung cấp thông tin phục vụ hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng của doanh nghiệp.
Đầu tư cho nguồn nhân lực năng suất, chất lượng
Một nội dung đáng chú ý là nhóm nhiệm vụ đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.
Theo nghị quyết, kinh phí được bố trí cho việc biên soạn tài liệu phục vụ đào tạo, tập huấn; tổ chức các khóa đào tạo trong nước cho chuyên gia, giảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp và người lao động về kiến thức, kỹ năng nâng cao năng suất, chất lượng.
Hoạt động đào tạo cũng được mở rộng trong các cơ sở giáo dục, góp phần hình thành nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng về năng suất, chất lượng.
Đối với đào tạo chuyên gia năng suất, chất lượng ở nước ngoài nhằm đạt trình độ khu vực và quốc tế, cũng như thuê chuyên gia, giảng viên trong nước và nước ngoài, mức chi được thực hiện theo các quy định hiện hành được nghị quyết dẫn chiếu.
Việc đầu tư cho đào tạo được xem là một trong những nền tảng để doanh nghiệp chủ động xây dựng năng lực cải tiến, thay vì chỉ tập trung vào hỗ trợ ở từng khâu sản xuất.
Từ tiêu chuẩn hóa đến sản xuất thông minh
Nghị quyết 61 cũng dành nội dung cho việc tăng cường năng lực tiêu chuẩn hóa và đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Các nhiệm vụ xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, quy chuẩn kỹ thuật địa phương phục vụ trực tiếp hoạt động nâng cao năng suất, chất lượng; thiết lập nền tảng tiêu chuẩn hóa cho sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh được thực hiện theo quy định về lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cùng với đó, tỉnh quy định mức chi hỗ trợ nâng cao năng lực cho các tổ chức chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hướng tới được công nhận, thừa nhận ở khu vực và quốc tế.
Đối với doanh nghiệp, các nhiệm vụ áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất, chất lượng và các công cụ hỗ trợ sản xuất thông minh, dịch vụ thông minh cũng thuộc phạm vi được hỗ trợ theo quy định.
Đây là nhóm nội dung gắn trực tiếp với quá trình doanh nghiệp chuẩn hóa hoạt động sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm và từng bước ứng dụng các phương thức quản trị, sản xuất hiện đại.
Thúc đẩy năng suất xanh, hỗ trợ tái cấu trúc
Không chỉ tập trung vào hỗ trợ doanh nghiệp, Nghị quyết 61 còn quy định các khoản chi phục vụ công tác quản lý và hoạt động chung của Chương trình 1322.
Trong đó có chi tư vấn xác định nhiệm vụ, tuyển chọn nhiệm vụ; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện; tổ chức các cuộc họp, hội thảo khoa học; nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách và giải pháp về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy năng suất của địa phương và doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế.
Các nhiệm vụ nghiên cứu, triển khai ứng dụng giải pháp năng suất xanh và phát triển cộng đồng cũng được đưa vào nhóm nội dung được quy định mức chi.
Ngoài ra, nghị quyết quy định mức chi cho công tác phí, tổ chức hội nghị sơ kết, tổng kết Chương trình; văn phòng phẩm, dịch vụ công cộng và các hoạt động hợp tác quốc tế về năng suất, chất lượng.
Nguồn kinh phí thực hiện được bố trí từ ngân sách nhà nước trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cho các hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo quy định của pháp luật, cùng các nguồn kinh phí hợp pháp khác ngoài ngân sách nhà nước.
Đối với những nội dung hỗ trợ đã được triển khai và có quyết định phê duyệt nhiệm vụ trước thời điểm nghị quyết có hiệu lực, việc thực hiện tiếp tục theo quy định của pháp luật tại thời điểm bắt đầu nội dung hỗ trợ.
Nghị quyết giao UBND tỉnh tổ chức triển khai thực hiện; Thường trực HĐND tỉnh, các Ban của HĐND tỉnh, các Tổ đại biểu và đại biểu HĐND tỉnh giám sát việc thực hiện.
Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND có hiệu lực từ ngày 5/10/2026 và đồng thời bãi bỏ Nghị quyết số 109/2022/NQ-HĐND ngày 8/7/2022.
Việc quy định cụ thể các nội dung và mức chi được kỳ vọng tạo hành lang để triển khai Chương trình 1322 giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn Lâm Đồng, tập trung vào những yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh doanh nghiệp như tiêu chuẩn hóa, quản trị chất lượng, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và cải tiến năng suất.
Hoàng Phương























