Mảng nhựa xây dựng sẽ là điểm sáng khi cả thị trường nội địa và xuất khẩu đều tích cực - Ảnh minh họa.
Mảng nhựa xây dựng sẽ là điểm sáng khi cả thị trường nội địa và xuất khẩu đều tích cực - Ảnh minh họa.

Nhựa bao bì: Động lực ngắn hạn, thách thức dài hạn

Phụ thuộc lớn vào tiêu dùng nội địa. Đối với các sản phẩm bao bì màng phức và chai nhựa, hơn 80% sản lượng tiêu thụ đến từ thị trường trong nước. Phân khúc này được hưởng lợi từ xu hướng gia tăng chi tiêu hộ gia đình, đặc biệt là nhóm thực phẩm – đồ uống không cồn và sản phẩm chăm sóc cá nhân, gia đình. Theo dự báo của BMI, chi tiêu hộ gia đình tại Việt Nam giai đoạn 2024–2028 có thể tăng trưởng kép khoảng 10,38%/năm, tạo nền tảng hỗ trợ cho nhu cầu bao bì.

Xuất khẩu vẫn là trụ cột của màng đơn. Với sản phẩm bao bì màng đơn, hơn 70% sản lượng phụ thuộc vào xuất khẩu. Trong giai đoạn 2024–2029, kim ngạch xuất khẩu túi nhựa của Việt Nam được dự báo tăng khoảng 3,9%/năm. Động lực chủ yếu đến từ việc mở rộng thị phần tại Mỹ – thị trường chiếm khoảng 26% giá trị xuất khẩu – khi nhiều quốc gia cung ứng khác đang chịu mức thuế đối ứng cao hơn Việt Nam từ 10–25% (trừ Thái Lan).

Dài hạn: Tăng trưởng chậm lại. Giai đoạn 2029–2034, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu túi nhựa được dự báo giảm xuống khoảng 3%/năm do:

Các thị trường chủ lực như EU, Mỹ, Nhật Bản đã đạt mức tiêu thụ nhựa bình quân đầu người cao, dư địa tăng trưởng hạn chế.

Nhu cầu bao bì nhựa dần tiệm cận ngưỡng bão hòa. Xu hướng hạn chế sản phẩm nhựa dùng một lần ngày càng rõ nét, đặc biệt tại EU và Mỹ, do yêu cầu bảo vệ môi trường.

Nhựa xây dựng: Điểm sáng nổi bật

Tăng trưởng mạnh trong ngắn hạn: Sản lượng ống nhựa được dự báo tăng trung bình 10%/năm trong giai đoạn 2025–2026 và duy trì mức tăng trưởng kép 5,7%/năm giai đoạn 2026–2030.

Dự phóng tăng trưởng sản lượng ống nhựa tích cực trong giai đoạn 2025 – 2026F - Nguồn: FPTS dự phóng.
Dự phóng tăng trưởng sản lượng ống nhựa tích cực trong giai đoạn 2025 – 2026F - Nguồn: FPTS dự phóng.

Riêng 9 tháng đầu năm 2025, tiêu thụ ống nhựa tăng khoảng 24% so với cùng kỳ, nhờ sự phục hồi mạnh của ngành xây dựng – mức tăng cao nhất trong nhiều năm.

Động lực từ chính sách và đầu tư công. Thị trường nhà ở được kỳ vọng khởi sắc nhờ bộ ba luật mới có hiệu lực từ tháng 8/2024 gồm: Luật Đất đai; Luật Nhà ở; Luật Kinh doanh Bất động sản.

Các chính sách tháo gỡ pháp lý tiếp tục được ban hành trong năm 2025 đã thúc đẩy nguồn cung. Trong nửa đầu năm 2025, số căn hộ được cấp phép xây dựng tăng 61,1% so với cùng kỳ.

Ở mảng hạ tầng, giải ngân đầu tư công 10 tháng năm 2025 đạt 476,7 nghìn tỷ đồng, tăng 34% so với cùng kỳ và hoàn thành 44,8% kế hoạch năm. Điều này tạo lực cầu đáng kể cho sản phẩm ống nhựa dân dụng và công nghiệp.

Triển vọng trung và dài hạn. Ngành xây dựng Việt Nam được dự báo tăng trưởng trung bình 6,9%/năm giai đoạn 2024–2030, nhờ: Cơ cấu dân số vàng. Tốc độ đô thị hóa cao.

Tính đến cuối 2024, tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,2%, thấp hơn nhiều nước Đông Nam Á nhưng còn dư địa lớn. Dự báo đến năm 2034, tỷ lệ này có thể đạt 57,3%, tương ứng tốc độ tăng trung bình 1,6 điểm phần trăm mỗi năm trong giai đoạn 2024–2034.

Dù triển vọng tích cực, ngành nhựa vẫn đối mặt với biến động chi phí đầu vào. Hạt nhựa chiếm khoảng 60% tổng chi phí sản xuất, do đó ảnh hưởng trực tiếp đến biên lợi nhuận gộp.

Giá hạt nhựa chịu tác động từ: Xu hướng dư cung toàn cầu trong dài hạn. Biến động giá dầu và khí – các nguyên liệu đầu vào chính – vốn nhạy cảm với tình hình địa chính trị quốc tế.

Trong bối cảnh tổng sản lượng ngành dự kiến tăng trưởng 7%/năm và đạt 16,4 triệu tấn vào năm 2029, nhựa xây dựng đang nổi lên là phân khúc dẫn dắt nhờ lực đẩy từ khung pháp lý bất động sản mới, đầu tư công và xu hướng đô thị hóa. Ngược lại, nhựa bao bì dù vẫn tăng trưởng trong ngắn hạn nhưng có thể đối mặt với áp lực chậm lại trong dài hạn do yếu tố bão hòa và môi trường.

Bức tranh toàn ngành vì vậy sẽ có sự phân hóa rõ nét giữa các phân khúc – trong đó nhựa xây dựng được kỳ vọng đóng vai trò động cơ tăng trưởng chính trong giai đoạn tới.

Hoàng Phương (t/h)