Hội thảo không chỉ đơn thuần cập nhật những thay đổi về chính sách, mà còn thảo luận, đề xuất các giải pháp để chính sách không chỉ là công cụ quản lý, mà thực sự trở thành đòn bẩy kiến tạo để hộ kinh doanh tái đầu tư, mở rộng và vươn lên quy mô lớn hơn.

Quang cảnh Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng”.
Quang cảnh Hội thảo “Hộ kinh doanh và động lực tăng trưởng”. (Ảnh: BTC)

Chính sách vĩ mô: Từ minh bạch thị trường đến kiến tạo nguồn lực

Từ ngày 1/6/2025, Nghị định 70/2025/NĐ-CP đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh khi mở rộng việc áp dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền có kết nối dữ liệu với cơ quan thuế, qua đó thúc đẩy minh bạch hóa doanh thu và đẩy nhanh quá trình số hóa hoạt động kinh doanh.

Việc tăng cường tính minh bạch thông qua số hóa quản lý thuế được xem là nền tảng để Nhà nước từng bước triển khai các chính sách hỗ trợ có mục tiêu và hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân.

Năm 2026 ghi nhận những chuyển động đáng chú ý trong tư duy hoạch định chính sách, khi mục tiêu tăng cường hiệu quả quản lý ngày càng được đặt song hành với yêu cầu duy trì và mở rộng dư địa phát triển cho khu vực kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh đó, đề xuất giảm 30% thuế thu nhập trong năm 2026 - 2027 đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu đến 10 tỷ đồng của Chính Phủ cho thấy rõ hơn cách chính sách tài khóa đang được sử dụng như một công cụ hỗ trợ tăng trưởng, không chỉ bằng việc giảm nghĩa vụ trước mắt mà còn thông qua việc giữ lại thêm nguồn lực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Với phần lớn hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, biên lợi nhuận mỏng và khả năng chống chịu trước biến động thị trường còn hạn chế, mỗi khoản chi phí được cắt giảm đều có thể tạo ra tác động trực tiếp tới dòng tiền và quyết định đầu tư. Vì vậy, ý nghĩa của đề xuất giảm thuế không dừng ở việc bớt đi một khoản phải nộp, mà nằm ở khả năng chuyển phần nguồn lực được giữ lại thành vốn lưu động, hàng hóa bổ sung, đầu tư công nghệ, duy trì hoặc mở rộng hoạt động. Khi nguồn lực ấy tiếp tục được quay vòng trong nền kinh tế, chính sách giảm thuế không chỉ hỗ trợ từng chủ thể kinh doanh mà còn có thể tạo hiệu ứng lan tỏa tới đầu tư, việc làm và tăng trưởng.

Bà Cao Thị Thanh Lan, đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) phát biểu tại hội thảo.
Bà Cao Thị Thanh Lan, đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính) phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BTC)

Theo bà Cao Thị Thanh Lan, đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính)

Một thay đổi quan trọng là ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế đã được điều chỉnh mạnh chỉ trong thời gian ngắn, từ mức 100 triệu đồng/năm theo phương pháp trước đây lên 1 tỷ đồng/năm từ năm 2026. Đây là mức được cân nhắc nhằm hài hòa giữa yêu cầu quản lý, bảo đảm công bằng và mục tiêu khuyến khích khu vực hộ kinh doanh phát triển, từng bước tạo điều kiện cho những hộ có đủ năng lực chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp. Định hướng này cũng gắn với mục tiêu lớn hơn về phát triển khu vực kinh tế tư nhân, trong đó Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động”.

Tuy nhiên, tác động của một chính sách thuế tích cực chỉ có thể được phát huy đầy đủ khi phần nguồn lực vừa được giải phóng không tiếp tục bị bào mòn bởi những chi phí phát sinh ở các khâu khác. Nếu giảm thuế là bước đầu để tạo thêm dư địa tài chính, thì bước tiếp theo cần phải bảo đảm môi trường chính sách đủ đồng bộ, bao trùm để nguồn lực đó có thể tiếp tục chảy vào đầu tư, sản xuất và mở rộng kinh doanh, thay vì quay trở lại dưới dạng chi phí thủ tục, chi phí tuân thủ hoặc những khoản đầu tư bắt buộc để đáp ứng các yêu cầu quản lý mới.

Khoảng cách thực thi và chi phí tuân thủ

Đại diện Cục Quản lý, giám sát chính sách thuế, phí và lệ phí (Bộ Tài chính), bà Cao Thị Thanh Lan cũng nhìn nhận rằng ngưỡng doanh thu không phải là vấn đề duy nhất. Trong quá trình chuyển sang phương thức quản lý và kê khai mới, hộ kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn về cách thức thực hiện nghĩa vụ thuế, kế toán, hóa đơn và khả năng thích ứng với các yêu cầu mới.

Đặc điểm của khu vực hộ kinh doanh khiến tác động này càng cần được lưu ý. Khác với doanh nghiệp có bộ phận kế toán, pháp chế hay công nghệ chuyên trách, một chủ hộ có thể đồng thời đảm nhiệm việc bán hàng, nhập hàng, quản lý tồn kho, theo dõi dòng tiền và thực hiện các nghĩa vụ hành chính. Vì vậy, chỉ một điều chỉnh nhỏ trên văn bản có thể kéo theo nhiều thay đổi trong thực tế vận hành, từ thời gian cập nhật quy định, cách sử dụng phần mềm đến việc sắp xếp nhân lực và cơ sở vật chất.

Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam phát biểu tại hội thảo. (Ảnh: BTC)

Theo Bà Nguyễn Thị Thu Hà, Phó Tổng Thư ký Hội Tư vấn Thuế Việt Nam

“Qua quá trình tiếp xúc với hộ kinh doanh tại các chợ, hiệp hội ngành nghề, các hộ nhỏ lẻ cũng như các đại lý thuế, đơn vị cung cấp dịch vụ kế toán, Hiệp hội Tư vấn Thuế Việt Nam ghi nhận phần lớn hộ kinh doanh không có tâm lý né tránh nghĩa vụ thuế. Ngược lại, họ mong muốn được tuân thủ, được thực hiện đầy đủ trách nhiệm và được ghi nhận là những người kinh doanh có trách nhiệm. Tuy nhiên, khó khăn nằm ở chỗ hệ thống quy định hiện nay tương đối phức tạp và phân tán, khiến nhiều hộ không biết nên bắt đầu từ đâu, văn bản nào áp dụng cho trường hợp của mình và thực hiện như thế nào mới được coi là đúng.”

Từ góc độ đó, đánh giá tác động chính sách không nên dừng ở từng văn bản hoặc từng nghĩa vụ riêng biệt, mà cần nhìn vào tác động tích lũy và tổng hòa các nghĩa vụ lên cùng một chủ thể/đối tượng kinh doanh. Một nghĩa vụ có thể hợp lý nếu đứng riêng độc lập, nhưng khi cùng áp dụng đồng thời với nhiều nghĩa vụ khác, tổng chi phí về thời gian, tài chính và khả năng thích ứng có thể khác đáng kể so với những gì từng đánh giá đơn lẻ phản ánh.

“Đại diện Hội Tư vấn Thuế Việt Nam cho biết hoàn toàn đồng thuận với đề xuất giảm 30% thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp đang được thảo luận tại Quốc hội. Tuy nhiên, theo Hội, đây vẫn là một giải pháp hỗ trợ có tính thời điểm; về dài hạn cần tiếp tục hoàn thiện cấu trúc chính sách để tạo động lực thực chất hơn cho hộ kinh doanh, cụ thể:

Cần tiếp tục xem xét ngưỡng doanh thu áp dụng phương pháp tính thuế theo thu nhập theo hướng gắn với tiêu chí doanh nghiệp siêu nhỏ.

Chính sách cần có cơ chế chuyển tiếp hợp lý thay vì áp dụng một cách đột ngột theo năm tính thuế

Cần tránh tạo nghĩa vụ trùng lặp đối với hoạt động thương mại điện tử.

Cần có một giai đoạn chuyển tiếp “mềm” theo hướng ưu tiên hướng dẫn và khắc phục trước xử phạt. Đồng thời cần nghiên cứu các hình thức hỗ trợ hoặc giảm nhẹ phù hợp để hộ có nguồn lực chi trả cho những chi phí tuân thủ phát sinh trong giai đoạn chuyển đổi.

Khi HKD có doanh thu năm trên 1 tỷ đồng, áp dụng không nộp thuế GTGT tương tự việc miễn thuế TNCN cho doanh thu 1 tỷ đầu tiên trong năm, nhằm chỉ đánh thuế phần vượt ngưỡng và giảm “cú sốc” khi hộ lớn lên.

Tại phiên thảo luận, các quy định chuyên ngành tác động trực tiếp tới điểm bán được đặt ra như một phép thử cụ thể đối với chất lượng thiết kế và tổ chức thực thi chính sách. Một trong những vấn đề được các hộ kinh doanh đề cập tại Hội thảo là đề xuất hạn chế trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán tại Dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống tác hại của thuốc lá.

“Bên cạnh những quy định chung về thuế, hóa đơn hay kế toán, chúng tôi cũng đang đứng trước nhiều yêu cầu mới từ các chính sách khác. Chẳng hạn, trong dự thảo liên quan đến phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện nay có đề xuất cấm trưng bày sản phẩm tại điểm bán. Với các cửa hàng tạp hóa nhỏ, nơi quầy bán cũng thường là chỗ để hàng, nếu quy định thay đổi thì chúng tôi sẽ phải điều chỉnh lại cách bố trí cửa hàng, lưu giữ sản phẩm và cả cách phục vụ khách. Vì vậy, chúng tôi hy vọng thay vì chỉ nghiêm cấm hoàn toàn thì có thể chỉ cấm trưng bày bên ngoài thôi, còn bên trong thì vẫn cho chúng tôi trình bày bình thường, như thế sẽ dễ cho chúng tôi hơn. - Đại diện Hộ Kinh doanh cho biết

Nếu trọng tâm của việc hạn chế trưng bày là giảm sự hiện diện của sản phẩm trước công chúng, đặc biệt đối với người đi ngang qua điểm bán và trẻ vị thành niên, thì một phương án có thể được cân nhắc là chỉ hạn chế trưng bày tại những vị trí có thể nhìn thấy từ bên ngoài cửa hàng, thay vì mở rộng lệnh cấm tới toàn bộ không gian bên trong. Không gian hướng ra bên ngoài là nơi sản phẩm có thể tiếp cận cả những người không chủ động tìm kiếm hay bước vào điểm bán; trong khi không gian bên trong cửa hàng đồng thời thực hiện chức năng lưu trữ hàng hóa, quản lý tồn kho và phục vụ những khách hàng trưởng thành đã chủ động yêu cầu mua sản phẩm.

Cách tiếp cận này giúp mối liên hệ giữa mục tiêu của chính sách và quá trình thực thi trở nên rõ hơn: kiểm soát phần không gian tạo ra sự tiếp xúc với công chúng, đồng thời duy trì khả năng vận hành hợp pháp bên trong cửa hàng. Quan trọng hơn, một ranh giới không gian rõ ràng cũng giúp cả người bán và cơ quan kiểm tra dễ nhận biết đâu là hành vi bị hạn chế, qua đó thu hẹp vùng xám trong thực thi.

Bên cạnh phạm vi áp dụng, hộ kinh doanh cũng có nhiều băn khoăn liên quan tới thời gian chuyển đổi để có thể thực hiện đúng một quy định mới, ví dụ như quy định cấm trưng bày sản phẩm nêu trên, HKD cũng mong có khoảng thời gian làm quen, chuyển đổi hợp lý, tầm 18-24 tháng trước khi áp dụng đầy đủ, để tránh tình trạng người kinh doanh chưa kịp hiểu hoặc chưa kịp điều chỉnh đã đứng trước rủi ro sai sót, đồng thời có những hướng dẫn giải thích kỹ càng phù hợp về cách thức trưng bày.

Đồng ý với những khó khăn trên, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng thư ký, Trưởng Ban pháp chế VCCI cũng cho rằng, thuốc lá là ngành hàng đặc thù, việc cấm quảng bá trên các nền tảng truyền thông là hợp lý, tuy nhiên nếu cấm cả việc trưng bày thì khá thử thách, khá khó cho hộ kinh doanh, không biết hộ kinh doanh sẽ tiếp xúc với khách hàng bằng cách nào.

Quy định này không chỉ diễn ra ở cấp doanh nghiệp, mà tác động tới hàng triệu điểm bán phân tán trên toàn quốc, phần lớn là cửa hàng tạp hóa nhỏ, hộ kinh doanh cá thể, quầy hàng và điểm bán truyền thống. Mỗi điểm bán phải nắm được thông tin và hiểu quy định, xác định lại cách bố trí quầy kệ, phương thức lưu giữ sản phẩm, quy trình bán hàng và cách nhận diện sản phẩm hợp pháp; trong khi doanh nghiệp và hệ thống phân phối cần điều chỉnh hướng dẫn vận hành cho một mạng lưới rất lớn và không đồng nhất.

Song song đó, cơ quan quản lý thị trường tại địa phương cũng phải chuẩn bị tương ứng. Một quy định áp dụng trên mạng lưới rộng và phân tán chỉ có thể được thực thi nhất quán khi khái niệm, tiêu chí kiểm tra và cách xử lý các tình huống phát sinh được hướng dẫn đầy đủ và rõ ràng, cán bộ tại các địa phương được tập huấn thống nhất và người kinh doanh có đầu mối để giải đáp những tình huống chưa được dự liệu trong văn bản. Nếu thời gian chuyển tiếp quá ngắn, rủi ro không chỉ là hộ kinh doanh sai sót ngoài ý muốn dẫn đến những chi phí tuân thủ không mong muốn mà còn gây ra thử thách cho lực lượng chức năng khi chưa có đủ thời gian để chuẩn bị các nguồn lực thực thi.

Ban chủ toạ điều hành hội thảo.
Ban chủ toạ điều hành hội thảo. (Ảnh: BTC)

Từ góc độ này, kết hợp cùng đặc thù mạng lưới bán lẻ của Việt Nam, một giai đoạn chuyển tiếp thực chất từ 18 - 24 tháng cần được cân nhắc. Khoảng thời gian này không nên được hiểu là trì hoãn mục tiêu quản lý, mà là thời gian để hoàn tất các điều kiện làm nên hiệu quả quản lý: ban hành hướng dẫn chi tiết, thống nhất cách hiểu, truyền thông tới điểm bán, tập huấn lực lượng thực thi, điều chỉnh cơ sở vật chất, hoàn thiện quy trình và xử lý những tình huống phát sinh trước khi chuyển sang chế độ áp dụng đầy đủ.

Mở rộng dư địa tăng trưởng từ chất lượng của từng quyết định chính sách

Mục tiêu tăng trưởng hai chữ số được hiện thực hóa từ hàng triệu quyết định đầu tư, mở rộng và tuyển dụng ở cấp độ doanh nghiệp và hộ kinh doanh. Những quyết định ấy chịu tác động trực tiếp từ chất lượng môi trường chính sách: một khoản thuế được giảm có thể trở thành vốn tái đầu tư; một thủ tục được đơn giản hóa có thể giải phóng nguồn lực; một quy định với pham vi và lộ trình phù hợp có thể giúp thị trường chủ động thích ứng thay vì phát sinh thêm chi phí và rủi ro.

Vì vậy, yêu cầu đặt ra không chỉ là ban hành thêm các chính sách hỗ trợ, mà phải bảo đảm các chính sách cùng vận động theo một hướng phát triển như giảm nghĩa vụ phải đi cùng kiểm soát chi phí thực thi; yêu cầu quản lý mới phải được đánh giá đầy đủ về tác động; phạm vi điều chỉnh phải tương xứng với mục tiêu và những thay đổi lớn cần có đủ thời gian chuyển tiếp.

Khi các nguyên tắc này được bảo đảm, việc tăng cường quản lý nhà nước không còn đồng nghĩa với thu hẹp dư địa tăng trưởng, và tăng trưởng cũng không phải đánh đổi bằng việc nới lỏng các yêu cầu quản lý. Một hệ thống chính sách hiệu quả phải vừa bảo đảm kỷ cương, vừa nuôi dưỡng và phát triển nguồn lực và niềm tin để người kinh doanh tiếp tục đầu tư, mở rộng và đóng góp vào động lực, mục tiêu tăng trưởng chung.

Bùi Chiểu