Khi nguồn cung gạo toàn cầu vẫn ở mức cao, cạnh tranh bằng giá ngày càng khó tạo dư địa tăng trưởng. Bài toán của ngành gạo vì thế đang chuyển sang nâng chất lượng, xây dựng sản phẩm có giá trị cao và tìm kiếm những thị trường chấp nhận mức giá tốt hơn.

Khoảng cách giá đang cho thấy dư địa lớn

Thị trường gạo thế giới năm 2026 tiếp tục chịu tác động bởi nguồn cung dồi dào, thay đổi chính sách nhập khẩu và yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn môi trường.

Theo số liệu 8 tháng, giá trị xuất khẩu của Việt Nam giảm nhanh hơn sản lượng. Đây là dấu hiệu cho thấy tăng khối lượng chưa chắc đồng nghĩa với tăng doanh thu nếu giá bán bình quân tiếp tục chịu sức ép.

Tuy nhiên, diễn biến giá cũng cho thấy cơ hội ở những phân khúc khác. Riêng tháng 7/2026, giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 511 USD/tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ và là tháng đầu tiên trong năm vượt mức của năm 2025.

Gạo chất lượng cao, gạo thơm và các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn môi trường đang mở ra dư địa nâng giá trị xuất khẩu của Việt Nam.
Gạo chất lượng cao, gạo thơm và các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn môi trường đang mở ra dư địa nâng giá trị xuất khẩu của Việt Nam. Ảnh AI

Đáng chú ý hơn, một số dòng gạo chất lượng cao, phát thải thấp có chứng nhận của Việt Nam đã đạt mức giá trên 1.000 USD/tấn tại một số thị trường như Nhật Bản, EU và Australia.

Khoảng cách lớn giữa mức giá này với gạo trắng phổ thông cho thấy dư địa gia tăng giá trị không nhất thiết nằm ở việc mở rộng thêm sản lượng. Cùng một lượng lúa, nếu được tổ chức sản xuất, chế biến và tiếp thị theo phân khúc phù hợp, giá trị thu về có thể khác biệt đáng kể.

Theo cân đối cung cầu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, sản lượng lúa năm 2026 dự kiến khoảng 43,55 triệu tấn, trong đó khoảng 7,73 triệu tấn gạo hàng hóa dành cho xuất khẩu. Gạo chất lượng cao và gạo thơm chiếm khoảng 75%.

Như vậy, nền tảng để chuyển hướng sang phân khúc giá trị cao đã hình thành. Vấn đề còn lại là biến lợi thế về chất lượng thành giá bán ổn định và thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Muốn bán giá cao phải kiểm soát được cả chuỗi

Thách thức lớn nhất của gạo giá trị cao nằm ở khả năng duy trì chất lượng đồng đều từ đồng ruộng đến thị trường. Đây là lý do vùng nguyên liệu trở thành mắt xích quan trọng trong chiến lược nâng giá trị xuất khẩu.

Đề án phát triển bền vững một triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đang tạo cơ sở để tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung. Vùng nguyên liệu được kiểm soát tốt giúp doanh nghiệp quản lý giống, quy trình canh tác, tiêu chuẩn chất lượng, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải.

Đây cũng là điều kiện để tiếp cận những thị trường có yêu cầu cao về môi trường. Trong tương lai, yếu tố phát thải thấp không chỉ liên quan đến mục tiêu xanh mà còn có thể trở thành một thuộc tính giúp sản phẩm tạo khác biệt và nâng giá bán.

Cùng với vùng nguyên liệu, doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất thông qua liên kết với hợp tác xã và nông dân, đầu tư kho chứa, hệ thống sấy, chế biến và truy xuất nguồn gốc. Khi nguồn nguyên liệu ổn định, doanh nghiệp có thể chủ động phát triển sản phẩm theo từng phân khúc thay vì phụ thuộc vào những đơn hàng ngắn hạn.

Thị trường cũng cần được phân tán hợp lý. 8 tháng năm 2026, Philippines chiếm khoảng 43,2% lượng xuất khẩu gạo Việt Nam, trong khi Trung Quốc chiếm 18,4% và Ghana khoảng 11%. Việc phụ thuộc lớn vào một số thị trường khiến xuất khẩu dễ chịu tác động khi chính sách nhập khẩu thay đổi.

Trong khi đó, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng 92,2% trong 8 tháng, cho thấy dư địa tại những thị trường khác vẫn còn. Một số thị trường châu Phi cũng xuất hiện nhu cầu lớn, trong khi các thị trường như Nhật Bản, EU và Australia mở ra không gian cho gạo chất lượng cao.

Đa dạng hóa thị trường vì vậy không chỉ là tìm thêm nơi bán hàng, mà phải đi cùng đa dạng hóa sản phẩm. Gạo phổ thông cần cạnh tranh bằng hiệu quả và chi phí, còn gạo chất lượng cao phải cạnh tranh bằng giống, tiêu chuẩn, vùng nguyên liệu, thương hiệu và khả năng truy xuất.

Xuất khẩu cả năm được Hiệp hội Lương thực Việt Nam dự kiến khoảng 7,738 triệu tấn, với kim ngạch khoảng 3,94 tỷ USD, giảm khoảng 4% so với năm 2025, chủ yếu do giá xuất khẩu bình quân những tháng đầu năm thấp.

Con số này đặt ra một bài toán rõ ràng cho ngành gạo: khi dư địa tăng sản lượng không còn nhiều, tăng trưởng cần đến từ giá trị. Thay vì chỉ đặt mục tiêu bán thêm nhiều tấn gạo, chuỗi sản xuất cần hướng tới việc tạo ra những tấn gạo có tiêu chuẩn cao hơn, thương hiệu rõ hơn và khả năng bán với giá tốt hơn.

Minh Thành (t/h)