Cần một cơ chế minh bạch thay cho "lợi thế lịch sử"

Một trong những nội dung được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là cơ chế lựa chọn thương nhân đầu mối thực hiện các hợp đồng xuất khẩu gạo tập trung.

Theo phân tích của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nhiều tiêu chí trong dự thảo hiện vẫn đặt trọng tâm vào thành tích xuất khẩu của các năm trước và điểm tín nhiệm được xây dựng dựa trên kết quả kinh doanh trong quá khứ.

Cách tiếp cận này có thể giúp lựa chọn các doanh nghiệp giàu kinh nghiệm, song cũng vô tình tạo ra rào cản đối với những doanh nghiệp mới có năng lực nhưng chưa có cơ hội tham gia các thị trường xuất khẩu theo cơ chế tập trung.

Phát triển chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến xuất khẩu được xem là nền tảng để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và mở rộng cơ hội cho nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường. Ảnh VGP
Phát triển chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến xuất khẩu được xem là nền tảng để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam và mở rộng cơ hội cho nhiều doanh nghiệp tham gia thị trường. Ảnh VGP

Thực tế, để có sản lượng xuất khẩu lớn, doanh nghiệp phải được giao thực hiện các hợp đồng tập trung. Tuy nhiên, để được lựa chọn tham gia các hợp đồng này, doanh nghiệp lại cần chứng minh thành tích xuất khẩu trong quá khứ. Vòng lặp đó khiến cơ hội cạnh tranh của doanh nghiệp mới trở nên rất hạn chế.

Không chỉ vậy, một số quy định về lựa chọn thương nhân đầu mối, cơ chế luân phiên hay chỉ định doanh nghiệp thay thế vẫn chưa được lượng hóa bằng các tiêu chí cụ thể. Điều này có thể làm giảm tính minh bạch trong quá trình lựa chọn và tạo ra tâm lý thiếu bình đẳng giữa các doanh nghiệp tham gia thị trường.

Từ góc độ cải cách thể chế, nhiều ý kiến cho rằng cần xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng rõ ràng, công khai nguyên tắc lựa chọn, đồng thời nghiên cứu dành một tỷ lệ nhất định trong các hợp đồng tập trung cho doanh nghiệp mới hoặc doanh nghiệp nhỏ đã xây dựng được chuỗi liên kết sản xuất với nông dân. Cách làm này không chỉ mở rộng cạnh tranh mà còn góp phần đa dạng hóa lực lượng doanh nghiệp xuất khẩu.

Chính sách cần khuyến khích liên kết sản xuất thay vì gia tăng chi phí

Bên cạnh cơ chế lựa chọn thương nhân, một nội dung khác được nhiều doanh nghiệp quan tâm là quy định về dự trữ lưu thông.

Theo dự thảo, mức dự trữ hàng hóa cao sẽ được tính là tiêu chí quan trọng trong đánh giá tín nhiệm doanh nghiệp. Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng việc duy trì lượng tồn kho lớn trong thời gian dài có thể làm tăng đáng kể chi phí kho bãi, bảo quản và sử dụng vốn, nhất là trong bối cảnh doanh nghiệp còn chịu áp lực về dòng tiền và chi phí tài chính.

Đối với ngành hàng có tính lưu thông cao như gạo, việc gia tăng tồn kho không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với nâng cao năng lực cung ứng. Nếu doanh nghiệp phải tập trung nguồn lực để duy trì lượng hàng dự trữ vượt nhu cầu thực tế chỉ nhằm đáp ứng tiêu chí đánh giá, hiệu quả kinh doanh có thể bị ảnh hưởng.

Nhiều chuyên gia cho rằng thay vì ưu tiên tiêu chí dự trữ vật chất, chính sách nên hướng tới khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các chuỗi liên kết với vùng nguyên liệu, hợp tác xã và người nông dân. Đây mới là nền tảng giúp bảo đảm nguồn cung ổn định, nâng cao chất lượng hạt gạo và tăng khả năng đáp ứng các đơn hàng lớn trong dài hạn.

Trong bối cảnh thị trường gạo thế giới cạnh tranh ngày càng gay gắt, việc hoàn thiện khung pháp lý theo hướng minh bạch, bình đẳng và giảm chi phí tuân thủ sẽ tạo điều kiện để nhiều doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi xuất khẩu. Khi đó, lợi ích không chỉ thuộc về doanh nghiệp mà còn lan tỏa tới người nông dân, vùng nguyên liệu và năng lực cạnh tranh của gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Minh Thành (t/h)