Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu thủy sản 7 tháng đầu năm đạt gần 6,78 tỷ USD, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước. Riêng tháng 7 đạt gần 1,02 tỷ USD, đánh dấu thêm một tháng xuất khẩu vượt mốc 1 tỷ USD và tạo nền tảng để ngành hướng tới mục tiêu trên 12 tỷ USD trong cả năm.
Tăng trưởng vẫn duy trì nhưng động lực đang thay đổi
Điểm đáng chú ý là động lực tăng trưởng của ngành không còn đến đồng đều từ tất cả các nhóm sản phẩm và thị trường như giai đoạn đầu năm.
Tôm tiếp tục giữ vai trò trụ cột khi mang về gần 2,78 tỷ USD sau 7 tháng, tăng 12,6% và chiếm khoảng 41% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Tuy nhiên, tốc độ tăng trong tháng 7 chỉ còn 4,5%, thấp hơn đáng kể so với mức tăng chung của cả giai đoạn.

Theo VASEP, tăng trưởng hiện chủ yếu được hỗ trợ bởi nhu cầu nhập khẩu tôm hùm của Trung Quốc, trong khi các dòng sản phẩm chủ lực như tôm chân trắng và tôm sú vẫn chịu sức ép cạnh tranh tại các thị trường truyền thống như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU) và Nhật Bản.
Ở chiều ngược lại, cá tra bắt đầu xuất hiện dấu hiệu chững lại. Kim ngạch xuất khẩu tháng 7 đạt gần 184 triệu USD, giảm 6,1% so với cùng kỳ năm trước, dù lũy kế 7 tháng vẫn tăng 8,8%, đạt gần 1,3 tỷ USD.
Theo VASEP, nhu cầu nhập khẩu tại Trung Quốc sau giai đoạn tăng mạnh đã có sự điều chỉnh, trong khi thị trường Hoa Kỳ chưa phục hồi rõ nét. Dù vậy, cá tra vẫn còn dư địa mở rộng tại EU khi nguồn cung nhiều loài cá thịt trắng truyền thống như cá tuyết hay cá minh thái tiếp tục hạn chế, buộc các nhà chế biến tìm kiếm nguồn nguyên liệu thay thế.
Trong nhóm hải sản, cua, ghẹ và các loài giáp xác khác nổi lên là điểm sáng khi tăng hơn 28% sau 7 tháng. Xuất khẩu nhuyễn thể có vỏ cũng tăng gần 30%, phản ánh nhu cầu tiêu dùng ổn định tại nhiều thị trường.
Ngược lại, cá ngừ tiếp tục là ngành hàng chịu nhiều áp lực nhất khi kim ngạch lũy kế giảm 1,4%. Sau giai đoạn doanh nghiệp đẩy mạnh giao hàng trước thời điểm chính sách thuế mới của Hoa Kỳ có hiệu lực, xuất khẩu mặt hàng này đã quay trở lại trạng thái tăng trưởng chậm.
Cuộc cạnh tranh chuyển từ giá sang năng lực đáp ứng tiêu chuẩn
Theo VASEP, thách thức lớn nhất đối với ngành thủy sản trong giai đoạn tới không chỉ nằm ở biến động nhu cầu mà còn đến từ môi trường thương mại quốc tế ngày càng khắt khe.
Việc Hoa Kỳ áp dụng mức thuế Section 301 đối với thủy sản Việt Nam ở mức 12,5%, cao hơn nhiều quốc gia cạnh tranh như Ecuador, Ấn Độ hay Indonesia, sẽ tạo thêm áp lực đối với các sản phẩm có biên lợi nhuận thấp, đặc biệt là tôm đông lạnh và cá ngừ chế biến.
Song song đó, doanh nghiệp còn phải đáp ứng nhiều quy định kỹ thuật mới.
Tại Hoa Kỳ, các sản phẩm cá ngừ phải tuân thủ các yêu cầu của Đạo luật Bảo vệ động vật có vú trên biển (MMPA), trong đó nhiều lô hàng cần bổ sung Chứng nhận đủ điều kiện nhập khẩu (COA) và chứng minh đầy đủ nguồn gốc khai thác.
Trong khi đó, thị trường EU tiếp tục siết chặt kiểm soát thông qua hệ thống số hóa CATCH đối với thủy sản khai thác. Việc đồng bộ dữ liệu truy xuất nguồn gốc, hồ sơ khai thác và thông tin lô hàng trở thành điều kiện bắt buộc nếu doanh nghiệp muốn hạn chế rủi ro chậm thông quan.
Theo các chuyên gia, lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp thủy sản Việt Nam đang dịch chuyển từ giá bán sang khả năng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, minh bạch chuỗi cung ứng và duy trì nguồn nguyên liệu ổn định.
Trong bối cảnh đó, Trung Quốc và Hong Kong tiếp tục giữ vai trò là thị trường tăng trưởng quan trọng nhất khi kim ngạch 7 tháng đạt gần 1,74 tỷ USD, tăng 34,5% so với cùng kỳ. Đây được xem là điểm tựa quan trọng giúp bù đắp sự suy giảm tại một số thị trường khác.
VASEP nhận định mục tiêu xuất khẩu trên 12 tỷ USD trong năm 2026 vẫn có thể đạt được. Tuy nhiên, để duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp sẽ phải đầu tư nhiều hơn cho quản trị chất lượng, truy xuất nguồn gốc, phát triển vùng nguyên liệu và thích ứng nhanh với các quy định mới của thị trường nhập khẩu. Khi dư địa tăng trưởng từ sản lượng dần thu hẹp, năng lực đáp ứng tiêu chuẩn và nâng cao giá trị gia tăng sẽ quyết định vị thế cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trong giai đoạn tới.
Nam Sơn (t/h)





















