Những tín hiệu từ thị trường xuất khẩu đang giúp doanh nghiệp dệt may Việt Nam duy trì sản xuất, nhưng chưa đồng nghĩa với việc lợi nhuận được cải thiện. Áp lực về giá, chi phí nguyên liệu, logistics và yêu cầu sản xuất xanh đang khiến mỗi đơn hàng mang về giá trị gia tăng thấp hơn.

8 tháng năm 2026, theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đạt 26,897 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm 2025. Con số này giúp dệt may tiếp tục nằm trong nhóm 4 ngành hàng xuất khẩu lớn nhất, nhưng thấp hơn nhiều so với mức tăng 22,4% của tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa cả nước.

Dệt may - lợi nhuận bị kẹp giữa hai đầu (ảnh: THCL)
Giá gia công giảm trong khi chi phí đầu vào và logistics tiếp tục tăng 

Kim ngạch xuất khẩu tiếp tục tăng, nhưng tốc độ tăng chưa phản ánh đầy đủ những gì doanh nghiệp dệt may đang phải đối mặt. Đằng sau mỗi con số về xuất khẩu là bài toán về giá, chi phí sản xuất, thời gian giao hàng và ngày càng nhiều yêu cầu mà doanh nghiệp phải đáp ứng để giữ khách hàng.

Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 8 tháng năm 2026, dệt may mang về 26,897 tỷ USD từ xuất khẩu, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Đây vẫn là một trong 4 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, song mức tăng khiêm tốn hơn nhiều so với tốc độ 22,4% của tổng xuất khẩu hàng hóa.

Ở phía doanh nghiệp, thị trường không phải không có nhu cầu. VITAS cho biết, phần lớn đơn vị đã có kế hoạch sản xuất đến hết quý III, còn một số doanh nghiệp lớn đã nhận đơn cho những tháng cuối năm. Điều đáng nói là lượng đơn hàng không còn là thước đo duy nhất. Giá trị thực tế thu được sau khi hoàn thành đơn hàng mới là vấn đề được quan tâm nhiều hơn.

Chủ tịch VITAS Vũ Đức Giang cho biết, giá gia công đang chịu sức ép trong lúc nhiều khoản chi phí tiếp tục tăng. Từ nguyên phụ liệu, nhân công, vận chuyển đến các yêu cầu về môi trường và tiêu chuẩn quốc tế, chi phí để hoàn thành một sản phẩm ngày càng phức tạp hơn.

Sự thay đổi của thị trường cũng buộc doanh nghiệp phải thay đổi cách lựa chọn đơn hàng. Dệt May Huế cho biết khách hàng đang chuyển sang những dòng sản phẩm thời trang có yêu cầu phức tạp hơn, trong khi thời gian thực hiện kéo dài. Khi nguyên liệu tăng giá nhưng giá bán chưa được điều chỉnh tương ứng, doanh nghiệp khó tránh khỏi sức ép về hiệu quả.

Không phải doanh nghiệp nào cũng lựa chọn giảm giá để giữ khách. May Nhà Bè vẫn giữ giá đối với mặt hàng dệt thoi, còn May 10 duy trì mức giá đã xây dựng từ tháng 6/2026 dù sức ép đàm phán tăng lên. Cách tiếp cận này cho thấy doanh nghiệp đang phải cân nhắc kỹ hơn giữa doanh thu, công suất và hiệu quả thực tế của hợp đồng.

Bức tranh xuất khẩu cũng cho thấy sự phân hóa giữa các nhóm sản phẩm. Sáu tháng đầu năm, hàng dệt may đạt khoảng 22,2 tỷ USD, tăng 1,7%, nhưng hàng may mặc giảm 0,4%. Trong khi đó, xơ sợi, vải, phụ liệu và vải không dệt tăng từ 5,6% đến 10,6%. Tăng trưởng vì thế đang nghiêng về những nhóm sản phẩm khác nhau, thay vì lan tỏa đồng đều trong toàn ngành.

Thị trường xuất khẩu lớn tiếp tục là yếu tố quyết định. Trong 5 tháng đầu năm, Mỹ chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu dệt may của Việt Nam với khoảng 6,81 tỷ USD, tăng 1,3%. EU đạt 1,94 tỷ USD, tăng 8,8%, trong khi Nhật Bản và Hàn Quốc giảm lần lượt 6,2% và 8,9%.

Cùng lúc, doanh nghiệp phải thích ứng với những thay đổi nhanh hơn từ khách hàng. VITAS cho biết tại một số thị trường, thời gian cam kết đơn hàng đã rút từ 6-12 tháng xuống khoảng 1-3 tháng. Với ngành có quy trình sản xuất nhiều công đoạn, thời gian đặt hàng ngắn đồng nghĩa áp lực điều phối nguyên liệu, nhân lực và năng lực sản xuất lớn hơn.

Tuy nhiên, áp lực chung không đồng nghĩa kết quả kinh doanh của các doanh nghiệp giống nhau. Sáu tháng đầu năm, Vinatex đạt 9.494 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 9,2%, lợi nhuận trước thuế đạt 930,1 tỷ đồng, tăng 39,5%. Dệt may Hòa Thọ cũng ước đạt 2.893 tỷ đồng doanh thu và thu nhập hợp nhất, tăng 9%, lợi nhuận riêng đạt 224,3 tỷ đồng.

Sự khác biệt này cho thấy dư địa cải thiện hiệu quả vẫn còn, nhưng không nằm đơn thuần ở việc tăng số lượng đơn hàng. Năng suất, cơ cấu sản phẩm, khả năng kiểm soát nguyên liệu, mức độ tự động hóa và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi giá trị đang ngày càng có ý nghĩa đối với kết quả cuối cùng.

Năm 2026, VITAS đặt mục tiêu xuất khẩu khoảng 48 tỷ USD. Để tiến gần mục tiêu này, ngành không chỉ cần duy trì thị trường mà còn phải nâng chất lượng tăng trưởng. Khi giá bán khó cải thiện trong khi chi phí và yêu cầu tuân thủ liên tục gia tăng, khả năng tạo thêm giá trị trên cùng một đơn hàng sẽ trở thành một trong những yếu tố quan trọng quyết định sức cạnh tranh của dệt may Việt Nam.

Hà Trần (t/h)