Cục Hải quan cho biết, tính đến ngày 15/4/2026, tổng lượng xuất khẩu xi măng đạt 11,6 triệu tấn, thu về 422,3 triệu USD, tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, giá xuất khẩu xi măng bình quân chỉ đạt khoảng 36 USD/tấn, giảm nhẹ 0,44% so với cùng kỳ.

Về thị trường, Philippines tiếp tục là đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, song ghi nhận mức sụt giảm mạnh, chỉ đạt hơn 801 nghìn tấn, tương đương 31,6 triệu USD, giảm trên 60% về lượng. Bangladesh đứng thứ hai với hơn 903 nghìn tấn, thu về trên 29,6 triệu USD, cũng giảm sâu so với cùng kỳ. Ngược lại, Malaysia là điểm sáng khi đạt hơn 487 nghìn tấn, tăng gần 30% về lượng và hơn 40% về trị giá. Xuất khẩu xi măng sang Đài Loan đạt hơn 280 nghìn tấn nhưng giảm cả về lượng, trị giá và giá bán.

Tính đến ngày 15/4/2026, tổng lượng xuất khẩu xi măng đạt 11,6 triệu tấn. Ảnh: KT
Tính đến ngày 15/4/2026, tổng lượng xuất khẩu xi măng đạt 11,6 triệu tấn. Ảnh: KT

Bên cạnh áp lực giá, ngành xi măng Việt Nam đang đối mặt với chi phí sản xuất tăng mạnh. Biến động địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là căng thẳng tại Trung Đông, đã đẩy giá năng lượng, nguyên liệu và logistics tăng cao, trực tiếp làm gia tăng giá thành và thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

Trong nước, giá xi măng cũng đã được điều chỉnh tăng 2-3 đợt riêng trong tháng 3/2026 nhằm bù đắp chi phí. Tuy nhiên, với tổng công suất toàn ngành đạt hơn 130 triệu tấn, trong khi tiêu thụ nội địa chỉ khoảng một nửa, áp lực giải phóng sản lượng qua kênh xuất khẩu ngày càng lớn.

Để hỗ trợ doanh nghiệp, Chính phủ đã giảm thuế xuất khẩu clinker và xi măng từ 10% xuống 5%, áp dụng đến hết năm 2026. Chính sách này được kỳ vọng góp phần duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu, đồng thời tạo dư địa cho ngành xi măng vượt qua giai đoạn nhiều thách thức hiện nay.

Tuấn Ngọc