Cơ quan Trung ương của Hiệp hội Chống hàng giả & Bảo vệ thương hiệu Việt Nam
  • Click để copy

Bảnh tẻ Văn Giang – Thức quà dân dã thay đổi cuộc sống người dân

Bánh tẻ không chỉ là món quà dân dã, giản dị, mang hương vị của trời, của đất, của tình người mà còn là nét văn hóa đặc trưng của người dân ở thôn Bá Khê, Văn Giang Hưng Yên. Bánh tẻ Văn Giang còn là sản phẩm du lịch độc đáo mang lại thu nhập chính giúp người dân thoát nghèo và vươn lên làm giàu.

Cách thành phố Hưng Yên khoảng 30 km, nằm bên dòng sông Hồng êm đềm thơ mộng, huyện Văn Giang, Hưng Yên từ lâu đã được nhiều du khách biết đến với sản phẩm bánh tẻ truyền thống khá nổi tiếng.

Mang hồn cốt của ẩm thực làng quê Việt

Bánh tẻ không phải loại bánh lạ, nhưng với bánh tẻ xã Tân Tiến, Văn Giang, Hưng Yên thì đặc biệt thơm ngon. Những chiếc bánh được gói trong lá dong nhỏ, chỉ to chừng 2 ngón tay nhưng mỏng vỏ, nhiều nhân thơm phức luôn là điểm thu hút của món ăn này. Cùng với vị ngậy ngậy của thịt, giòn dai của mộc nhĩ, thơm thơm của tiêu là vị bùi, dẻo của lớp vỏ bánh quyện lại với nhau khi ăn tạo nên hương vị rất khác biệt.

Bánh tẻ
Bánh tẻ Văn Giang, món quà dân dã.

Có lẽ chính những nghệ nhân làm bánh lâu năm tại thôn Bá Khê cũng không biết là món bánh này xuất hiện từ bao giờ, chỉ biết đâu đâu khắp Hưng Yên, từ hàng quán vỉa hè đến nhà hàng sang trọng, bánh tẻ Văn Giang đã được "phủ sóng". Đặc biệt vào các dịp lễ tết, hiếu hỉ thì đây là sản phẩm không thể thiếu trên mâm cỗ của mỗi gia đình tại địa phương.

Nét đặc trưng của bánh tẻ Văn Giang là dẻo chứ không nhão, nát như bánh giò. Bánh vừa có độ giòn lại vừa có vị đậm, vị béo của nhân, nồng nàn của mùi lá, không thể lẫn vào thứ bánh tẻ nào khác được.

Bánh tẻ Văn Giang ngon nhất là ăn nóng, khi bánh vừa mới ra lò. Nhẹ nhàng dùng tay bóc lớp lá ra, sẽ thấy hương thơm thanh mát của lá dong quyện với mùi bột gạo chín. Miếng bánh màu ngà vừa mềm dẻo vừa dai giòn một cách tự nhiên lại có vị đậm, vị béo của nhân. Có được hương vị ấy, chắc có lẽ bởi trong mỗi chiếc bánh, người thôn Bá Khê đã gửi trọn hồn cốt của ẩm thực làng quê Việt vào trong đó. Tuy là thức quà quê dân dã nhưng lại vô cùng đậm đà, khó quên.

Thức quà quê giản dị nhưng chi tiết đến từng công đoạn

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất Bánh tẻ tại thôn Bá Khê xã Tân Tiến, Huyện Văn Giang, Tỉnh Hưng Yên khi các thợ làm bánh đang chuẩn bị cho ra lò mẻ bánh mới. Ông Nguyễn Văn Đoàn cho biết, để làm ra một chiếc bánh tẻ mang hương vị đặc trưng này, phải trải qua nhiều công đoạn khác nhau. Khâu đầu tiên là khâu chọn nguyên liệu, gạo làm bánh tẻ phải là loại gạo ngon, có mùi thơm và có độ dẻo vừa phải. Hạt gạo cũng phải đảm bảo về độ sạch. Bên cạnh gạo, nguyên liệu phần nhân bánh gồm thịt lợn mông hoặc thịt vai, mộc nhĩ, hành khô, hạt nêm, nước mắm, tiêu…

Giai đoạn làm bột là một trong những giai đoạn quan trọng nhất của quá trình làm bánh.

"Trước tiên, xay gạo tẻ theo cách xay ướt thành bột nước loãng. Ngâm bột và thay nước thường xuyên. Đến khi bột đạt tiêu chuẩn thì múc bột ra, cho thêm vài thìa cà phê muối và nước khuấy đều. Gạn nước lấy phần bột mịn trước khi cho vào khuấy. Lúc đầu khuấy bột còn dễ vì bột còn lỏng, đến khi bột bắt đầu cô đặc lại dần thì người khuấy bột phải dùng hết sức đánh cho bột được khô đều. Vất vả là vậy, nhưng người làm bột không được lơ là dù chỉ 1 phút. Bởi chỉ cần bột không chín đều, hoặc vị cháy là cả mẻ bột sẽ phải đổ bỏ", ông Đoàn cho hay.

Nguyên liệu
Công đoạn sơ chế nguyên liệu là quan trọng nhất.

Nhân bánh cũng được làm từ thịt lợn ngon, cả nạc lẫn mỡ và bì luộc chín, thái hạt lựu. Mộc nhĩ ngâm cho nở rồi băm nhỏ, hành củ xắt mỏng và một chút gia vị đi kèm rồi xào thơm lên là được.

Đến phần chuẩn bị lá gói, bánh được gói bằng lá dong, rửa nhiều lần với nước, để ráo rồi lau khô bằng khăn sạch. Sau khi hoàn thành khâu sơ chế, bánh được gói lại, cuộn bằng dây tơ dứa và được hấp hoặc luộc 25 – 30 phút là chín.

Bánh tẻ ngon nhất là ăn nóng, bánh vừa mới ra lò sẽ có vị đậm đà khó quên.
Bánh tẻ ngon nhất là ăn nóng, bánh vừa mới ra lò sẽ có vị đậm đà khó quên..

Bánh tẻ có hình tròn dẹt, hai đầu bánh nhỏ hơn và bên ngoài bánh được quấn bằng dây. Bánh được làm chín hoàn toàn bằng hơi trong chõ, không bị thấm nước nên giữ được độ ngon và có hương vị đặc trưng.

Theo các thợ làm bánh, khâu luộc bánh cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng nếu để lửa to, luộc bánh kỹ, bánh sẽ bị nhừ, nhão; hoặc không đủ lửa, bánh sẽ không chín. Sản phẩm sau hoàn thiện, bánh có màu trong pha chút xanh, bóng đẹp, vị giòn ngon, nhân dậy mùi thơm.

Thức quà quê thay đổi cuộc sống Văn Giang

Theo thống kê, trên địa bàn huyện hiện có hơn 100 cơ sở sản xuất bánh tẻ. Trước đây bánh tẻ chủ yếu làm để biếu tặng trong các ngày lễ hội, Tết, cưới xin, giỗ chạp... nhưng ngày nay, khi sản phẩm bánh tẻ của Văn Giang đã nổi tiếng, khách hàng từ khắp nơi tìm về mua bánh tẻ ngày càng đông. Điều này đã giúp người dân làng nghề có công việc ổn định, cuộc sống được nâng cao.

Bánh
Bánh tẻ giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động ở các xã, vùng lân cận.

Trung bình một ngày mỗi cơ sở làm bánh tẻ ở nơi đây thường gói từ 500 đến 1.000 chiếc, khi có nhiều đơn đặt hàng thì con số này lại lên đến hàng nghìn chiếc. Trung bình mỗi chiếc có giá từ 3.000 đến 3.500 đồng, người làm bánh tẻ cũng thu được một số tiền không nhỏ. Cuộc sống của người dân vì thế cũng được nâng lên rất nhiều. Khách hàng từ khắp nơi tìm về thu mua bánh tẻ ngày càng đông, con đường 39b luôn tấp nập người ra kẻ vào để mua bánh. Điều này đã giúp người dân làng nghề có công việc ổn định, cuộc sống được nâng cao. Không những thế, sản xuất bánh tẻ còn giúp tạo công ăn việc làm cho người lao động ở các xã, vùng lân cận lúc nông nhàn.

"Nhờ làm bánh tẻ mà đời sống của người dân ổn định và khấm khá nhưng vui nhất là chúng tôi đã gìn giữ và phát triển được nghề của cha ông truyền lại. Chúng tôi sẽ tiếp tục gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ sau để bánh tẻ Văn Giang mãi được lưu truyền..." Bác Nguyễn Văn Đoàn phấn khởi nói.
Giờ đây bộ mặt làng bánh tẻ Văn Giang đang ngày càng đổi thay, với những ngôi nhà khang trang kiên cố được xây dựng ngày càng nhiều. Con em trong làng được học hành tử tế, hàng năm nhiều em thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ chuyên nghiệp trong cả nước.

Lê Pháp - Hoàng Thăng

Bài liên quan

Tin mới

Thanh Hóa tổ chức “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”
Thanh Hóa tổ chức “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”

Sáng 08/08, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá đã tổ chức “Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; đánh giá kết quả Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc của thành phố và kết quả hoạt động mô hình: Công nhân môi trường - “Chiến sỹ ” tuần tra.

Sắp diễn ra hoạt động kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào
Sắp diễn ra hoạt động kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào

Chiều 08/08, ông Nguyễn Văn Thi, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Thanh Hoá chủ trì hội nghị về kế hoạch tổ chức các hoạt động kỷ niệm 60 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Lào.

Thanh Hoá có thêm ba Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
Thanh Hoá có thêm ba Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia

Mới đây, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ra Quyết định đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia mười di sản, trong đó có ba di sản của tỉnh Thanh Hóa.

Sắp đến hạn cuối nộp hồ sơ hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động
Sắp đến hạn cuối nộp hồ sơ hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động

Theo Quyết định 08/2022/QĐ-TTg ngày 28/03/2022 của Chính phủ quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động, thời hạn cuối nộp hồ sơ nhận hỗ trợ tiền thuê nhà là ngày 15/08/2022.

7 tháng đầu năm ngành nông nghiệp giải ngân vốn đầu tư 1.595 tỷ đồng
7 tháng đầu năm ngành nông nghiệp giải ngân vốn đầu tư 1.595 tỷ đồng

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phân bổ hết 6.438 tỷ đồng; trong đó, vốn trong nước là 4.538 tỷ đồng, vốn ODA 1.900 tỷ đồng. 7 tháng đầu năm, khối lượng giải ngân lĩnh vực nông nghiệp đạt khoảng 1.595 tỷ đồng, đạt 24,8% vốn đã giao.

Bắc Ninh xếp thứ 04 cả nước về mức độ chuyển đổi số cấp tỉnh
Bắc Ninh xếp thứ 04 cả nước về mức độ chuyển đổi số cấp tỉnh

Theo kết quả đánh giá mức độ chuyển đổi số cấp Bộ, cấp tỉnh năm 2021 (chỉ số DTI), tỉnh Bắc Ninh xếp thứ 04 cả nước với giá trị đạt 0,5276, giảm 01 bậc nhưng lại tăng 0,118 về giá trị so với năm 2020.