Từ chính sách nhân văn đến nền tảng chăm sóc sức khỏe thế hệ trẻ

Chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong hành trình thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân, HSSV là nhóm đối tượng được xác định cần sớm được bao phủ BHYT, không chỉ bởi đây là lực lượng trẻ, mà còn bởi việc chăm sóc sức khỏe cho thế hệ tương lai chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Chính sách BHYT HSSV được triển khai thí điểm từ năm học 1994-1995 theo Thông tư liên tịch số 14/TTLB ngày 19/9/1994 của liên Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Qua từng giai đoạn, BHYT HSSV từng bước được hoàn thiện về pháp lý, mở rộng về diện bao phủ và nâng cao quyền lợi.

Theo quy định của Luật BHYT, HSSV thuộc nhóm đối tượng bắt buộc tham gia BHYT. Đây không đơn thuần là một nghĩa vụ mà còn là cơ chế bảo đảm để các em được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi không may ốm đau, bệnh tật.

Bên canh đó, việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT tối thiểu từ 30% lên 50% theo Luật BHYT năm 2024 là bước tiến quan trọng. Chính sách thể hiện rõ hơn trách nhiệm của Nhà nước trong bảo vệ sức khỏe trẻ em, thanh thiếu niên, đồng thời góp phần giảm chi phí đóng BHYT vào thời điểm đầu năm học - khi các gia đình phải cùng lúc lo nhiều khoản chi cho con em.

Quyết định số 1468/QĐ-TTg ngày 31/7/2026 của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu thực hiện bao phủ BHYT giai đoạn 2026 - 2030 đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% dân số tham gia BHYT. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo được giao chỉ đạo xây dựng kế hoạch, giải pháp thực hiện BHYT đối với HSSV, phấn đấu đến năm 2030 đạt 100% HSSV tham gia BHYT. Đây không chỉ là mục tiêu cụ thể hóa lộ trình BHYT toàn dân, mà còn là nhiệm vụ đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, nhà trường, gia đình và cơ quan BHXH, nhằm bảo đảm mọi HSSV được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Bao phủ rộng hơn, quyền lợi thiết thực hơn

Những năm gần đây, nhờ sự chủ động, tích cực vào cuộc của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương cùng sự ủng hộ của các bậc phụ huynh HSSV, công tác tổ chức, thực hiện chính sách BHYT HSSV đã đạt được những kết quả nhất định, nhiều BHXH tỉnh, thành phố cũng đã tích cực tham mưu cho cấp ủy, chính quyền để chỉ đạo mạnh mẽ các giải pháp phát triển BHYT nói chung và BHYT HSSV nói riêng.

Nếu như năm học 2023 - 2024, cả nước có khoảng hơn 19,1 triệu HSSV tham gia BHYT, đạt tỷ lệ bao phủ khoảng 97,8%; thì đến cuối tháng 6/2026, toàn quốc có 21,55 triệu HSSV tham gia BHYT, đạt tỷ lệ 99,39% tổng số HSSV. Khoảng cách từ 99,39% đến 100% chỉ còn rất ngắn, nhưng để hoàn thành phần việc cuối cùng này đòi hỏi không chỉ quyết tâm mà còn những giải pháp sát thực tế, nhất là đối với các nhóm HSSV có hoàn cảnh khó khăn, những địa bàn còn tỷ lệ tham gia chưa cao.

Đáng chú ý, đã có 12 địa phương đạt tỷ lệ bao phủ BHYT HSSV ở mức rất cao. Cao Bằng, Cà Mau, Hà Tĩnh, Lạng Sơn, Tây Ninh, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Bắc Ninh và Sơn La đã đạt 100%; Quảng Trị, Hải Phòng và Gia Lai đạt 99,9%.

Kết quả này cho thấy khi cấp ủy, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo; ngành Giáo dục, cơ quan BHXH và các nhà trường phối hợp chặt chẽ; phụ huynh nhận thức đầy đủ về quyền lợi của con em thì mục tiêu bao phủ toàn diện hoàn toàn có thể đạt được.

Đáng chú ý, nhiều địa phương đã chủ động quan tâm, chăm lo cho HSSV thông qua việc bố trí ngân sách và huy động các nguồn lực xã hội để hỗ trợ thêm mức đóng BHYT. Trong năm học 2025 - 2026, có 19 tỉnh, thành phố sử dụng ngân sách địa phương hỗ trợ thêm cho HSSV, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tuyên Quang, An Giang, Quảng Ngãi… là những địa phương có mức hỗ trợ đáng kể. Điển hình, Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ 50% cho nhóm hoc sinh; Tuyên Quang hỗ trợ thêm 50% mức đóng còn lại cho HSSV; Hà Nội hỗ trợ thêm 50% mức đóng BHYT đối với HSSV thuộc hộ gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp có mức sống trung bình. Những chính sách hỗ trợ này không chỉ giúp giảm áp lực tài chính cho gia đình mà còn cho thấy cách thức huy động nguồn lực xã hội để đưa chính sách an sinh đến gần hơn với từng HSSV.

Trong xu thế quyền lợi KCB về BHYT cho người tham gia ngày càng được mở rộng và không ngừng được nâng cao với các dịch vụ kỹ thuật hiện đại, thuốc điều trị mới, vật tư y tế cần thiết, tấm thẻ BHYT giúp HSSV được tiếp cận các đầy đủ các thuốc và dịch vụ y tế tiên tiến ngay tại các cơ sở trong nước với thủ tục thuận tiện, minh bạch. Từ mạng lưới y tế trường học, các cơ sở y tế từ trung ương đến cấp xã đều tham gia cung cấp dịch vụ KCB BHYT cho HSSV, bảo đảm các em được tiếp cận các dịch vụ y tế kịp thời, tại mọi địa bàn.

Về phía cơ quan BHXH, với trách nhiệm tổ chức, thực hiện chính sách, hệ thống BHXH Việt Nam đã và đang nỗ lực thực hiện tốt việc bảo đảm quyền lợi BHYT cho HSSV. Đặc biệt trong đó là việc tăng cường cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm hướng tới hỗ trợ HSSV tham gia và sử dụng thẻ BHYT đơn giản, thuận tiện hơn. Hiện nay, ngoài việc sử dụng thẻ BHYT giấy khi đi KCB, HSSV có thể sử dụng căn cước công dân gắn chíp, hoặc hình ảnh thẻ BHYT trên ứng dụng VNeID, ứng dụng “VssID - Bảo hiểm xã hội số” thay cho thẻ BHYT bằng giấy khi đi KCB tạo nhiều thuận lợi và giúp tiết kiệm thời gian cho các em.

HSSV khi tham gia BHYT sẽ được chăm sóc sức khỏe ngay từ trường học. Trung bình mỗi năm, quỹ BHYT đã chuyển kinh phí hàng nghìn tỷ đồng để các cơ sở giáo dục, thực hiện công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho HSSV, kịp thời hỗ trợ sơ cứu, KCB cho các em khi xảy ra các tai nạn hoặc ốm đau tại trường học.

Mỗi năm, hàng triệu lượt HSSV được thụ hưởng quyền lợi từ chính sách BHYT, nhiều trường hợp HSSV mắc bệnh nan y, mạn tính như suy thận, ung thư, tim mạch đã được quỹ BHYT chi trả chi phí KCB từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2026, có 3.527.625 lượt học sinh KCB BHYT, với số tiền đề nghị Quỹ BHYT chi trả 1.807,2 tỷ đồng. Cùng với đó, đối với sinh viên tham gia BHYT, có 565.345 lượt KCB BHYT, tăng 12,4%, tương ứng tăng 62.313 lượt so với 6 tháng đầu năm 2025. Số tiền đề nghị Quỹ BHYT chi trả đạt 337,4 tỷ đồng, tăng 18,9%, tương ứng tăng 53,6 tỷ đồng.

Đáng chú ý, trong cùng thời gian, có 779 HSSV được Quỹ BHYT thanh toán chi phí KCB từ 100 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng; 234 trường hợp từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng; 23 trường hợp từ 500 triệu đồng đến dưới 1 tỷ đồng và 3 trường hợp có chi phí từ 1 tỷ đồng trở lên.

Trường hợp có mức chi phí BHYT thanh toán cao nhất trong số 20 trường hợp được thống kê là một học sinh nam sinh năm 2016 tại Thành phố Hồ Chí Minh, mắc rối loạn đông máu đặc biệt khác và suy tim, được Quỹ BHYT thanh toán 1.369.481.596 đồng.

Chính sách BHYT thực sự trở thành “tấm lá chắn” bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho HSSV, giúp lan tỏa tinh thần sẻ chia và trách nhiệm cộng đồng. Tham gia BHYT không chỉ để phòng khi đau ốm, bệnh tật mà còn góp phần chia sẻ rủi ro với những hoàn cảnh khó khăn, người già yếu, bệnh nặng. Mỗi tấm thẻ BHYT là một câu chuyện về sự sẻ chia của cộng đồng, là minh chứng cho tinh thần tương thân tương ái mà HSSV có thể thực hành ngay từ nhà trường.

Hướng tới mục tiêu 100% HSSV tham gia BHYT

Năm học 2026-2027 đang đến gần. Với tỷ lệ 99,39% HSSV tham gia BHYT tính đến ngày 30/6/2026, mục tiêu bao phủ 100% đã ở rất gần. Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu này, cần tiếp tục rà soát từng địa bàn, từng cơ sở giáo dục và từng nhóm đối tượng, nhất là những trường hợp chưa tham gia hoặc có nguy cơ gián đoạn quyền lợi.

Theo ông Phan Văn Mến, Trưởng Ban Quản lý thu và Phát triển người tham gia, BHXH Việt Nam, mặc dù tỷ lệ HSSV tham gia BHYT đã đạt mức cao, song chưa đạt 100%. Một trong những nguyên nhân là nhận thức và tính chủ động tham gia BHYT của một bộ phận HSSV, phụ huynh còn hạn chế. HSSV là nhóm đối tượng bắt buộc tham gia BHYT, nhưng hiện chưa có chế tài đủ mạnh đối với trường hợp không tham gia, dẫn đến một số trường hợp chưa chấp hành đầy đủ quy định.

Thực tế này thể hiện rõ hơn ở nhóm sinh viên, nhất là từ năm thứ hai trở đi. Ở độ tuổi này, nhiều sinh viên sống xa gia đình, khả năng tự chủ cao hơn nhưng đồng thời cũng dễ có tâm lý chủ quan đối với việc chăm sóc sức khỏe, chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa của BHYT và chưa chủ động thực hiện nghĩa vụ tham gia theo quy định.

Bên cạnh yếu tố nhận thức, công tác tổ chức thực hiện tại một số cơ sở giáo dục vẫn còn những khó khăn. Đặc thù tuyển sinh của các trường cao đẳng, đại học khiến dữ liệu sinh viên có thời điểm được cập nhật, chuẩn hóa chậm, nhất là trong trường hợp tuyển sinh bổ sung hoặc sinh viên nhập học muộn. Một số nhà trường chưa phối hợp thật sự chặt chẽ với cơ quan BHXH trong việc rà soát, xác định và lập danh sách HSSV thuộc diện tham gia BHYT.

Những hạn chế trên, dù xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đều tác động trực tiếp đến việc hoàn thành mục tiêu bao phủ 100% HSSV.

Để giải quyết vấn đề này, theo Phó Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Đức Hòa, việc tổ chức thực hiện chính sách BHYT HSSV cần sự phối hợp đồng bộ của bốn chủ thể gồm cơ quan BHXH, nhà trường, phụ huynh hoặc sinh viên và cơ sở khám, chữa bệnh. Mỗi chủ thể đều có vai trò riêng, song chỉ khi cùng vào cuộc, chính sách mới có thể được triển khai đầy đủ và quyền lợi của HSSV mới được bảo đảm.

Trên cơ sở đó, BHXH Việt Nam tiếp tục phối hợp với ngành Giáo dục và Đào tạo tham mưu cấp ủy, chính quyền địa phương tăng cường chỉ đạo thực hiện BHYT HSSV ngay từ đầu năm học; giao chỉ tiêu cụ thể cho từng cơ sở giáo dục, đồng thời phân công rõ trách nhiệm của từng ngành, đơn vị trong tổ chức thực hiện.

Cùng với việc giao chỉ tiêu, cần quan tâm đúng mức đến những trường hợp còn khó khăn về kinh tế. Các địa phương được đề nghị nghiên cứu, đề xuất chính sách hỗ trợ thêm mức đóng BHYT từ ngân sách địa phương; đồng thời rà soát HSSV có hoàn cảnh khó khăn để huy động nguồn lực xã hội, các tổ chức, cá nhân hỗ trợ thẻ BHYT. Mục tiêu là không để hoàn cảnh kinh tế trở thành rào cản khiến HSSV không có thẻ hoặc bị gián đoạn quyền lợi BHYT.

Một giải pháp quan trọng khác là tiếp tục đổi mới công tác truyền thông. Thay vì chỉ tuyên truyền về nghĩa vụ tham gia, cần làm rõ những vấn đề mà phụ huynh và HSSV quan tâm nhất: mức đóng thực tế sau khi được Nhà nước hỗ trợ; quyền lợi khi khám, chữa bệnh; khả năng chia sẻ chi phí của Quỹ BHYT khi không may mắc bệnh nặng.

Những trường hợp HSSV được Quỹ BHYT chi trả chi phí điều trị từ hàng trăm triệu đồng đến hơn 1 tỷ đồng là những minh chứng cụ thể cho giá trị của chính sách. Qua đó, phụ huynh và HSSV có thể thấy rõ hơn rằng tham gia BHYT không chỉ là thực hiện một nghĩa vụ theo quy định, mà còn là chủ động tạo dựng một cơ chế bảo vệ trước những rủi ro sức khỏe khó lường.

Đối với nhà trường, việc thực hiện BHYT HSSV cũng cần được gắn với trách nhiệm chăm sóc sức khỏe HSSV. Cùng với bảo đảm việc lập danh sách, thu và cấp thẻ BHYT đúng quy định, các cơ sở giáo dục cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, củng cố y tế học đường, bố trí nhân viên y tế để thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho HSSV.

Ngành Y tế cũng có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng KCB BHYT. Việc nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thuận lợi trong tiếp nhận và điều trị sẽ góp phần củng cố niềm tin của người tham gia, từ đó nâng cao nhận thức về giá trị của tấm thẻ BHYT.

Theo định hướng của BHXH Việt Nam, thời gian tới, công tác phối hợp giữa cơ quan BHXH với ngành Giáo dục và Đào tạo, các tổ chức hội, đoàn thể trong nhà trường sẽ tiếp tục được tăng cường nhằm nâng cao nhận thức của HSSV. Đồng thời, phối hợp với ngành Y tế nâng cao chất lượng KCB, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người có thẻ BHYT.

Mục tiêu 100% HSSV tham gia BHYT là một nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược thực hiện BHYT toàn dân, đồng thời đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với công tác tổ chức thực hiện chính sách và sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, nhà trường, gia đình và toàn xã hội trong chăm sóc, bảo vệ sức khỏe thế hệ trẻ.

Khi 100% HSSV được bao phủ BHYT, chính sách không chỉ đạt thêm một bước tiến về độ bao phủ, mà còn tạo dựng một nền tảng bảo vệ sức khỏe vững chắc cho thế hệ trẻ. Qua đó, các em có thêm điểm tựa để yên tâm học tập, rèn luyện và trưởng thành, với sự đồng hành của gia đình, nhà trường và hệ thống an sinh xã hội.

Thái Dương