
Tại Hội thảo, các diễn giả, chuyên gia thảo luận các vấn đề như: Những điểm mới của pháp luật sở hữu trí tuệ và tác động đối với việc phát triển tài sản trí tuệ. Mô hình quản lý và phát triển tài sản trí tuệ tại địa phương khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp, khó khăn và giải pháp. Thương mại hóa tài sản trí tuệ, kết nối cung - cầu công nghệ và vai trò của tài sản trí tuệ trong phát triển thị trường khoa học và công nghệ. Quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp và tổ chức khoa học công nghệ, cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý Nhà nước - Viện - Trường - Doanh nghiệp trong phát triển và khai thác tài sản trí tuệ. Phòng chống xâm phạm và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hiện nay - Thực trạng và giải pháp. Thực tiễn và thách thức trong việc quản lý tài sản trí tuệ hiện nay. Giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp phát triển tài sản trí tuệ. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và hỗ trợ bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ tại TP. Cần Thơ.
Tài sản trí tuệ đang trở thành động lực quan trọng tăng trưởng kinh tế
Theo báo cáo Sở Khoa học và công nghệ TP. Cần Thơ: Tính từ tháng 7/2025 đến nay, TP. Cần Thơ có 1.214 đơn đăng ký bảo hộ (53 sáng chế, 4 giải pháp hữu ích, 55 kiểu dáng công nghiệp, 1.102 nhãn hiệu) và 1.234 văn bằng (8 sáng chế, 12 giải pháp hữu ích, 46 kiểu dáng công nghiệp, 1.168 nhãn hiệu). Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ tiếp tục triển khai Chương trình hỗ trợ phát triển tài sản trí tuệ và hỗ trợ đăng ký bảo hộ 36 nhãn hiệu, 24 sáng chế, 1 kiểu dáng công nghiệp với khoảng 1.275.000.000 đồng cho hơn 45 tổ chức, cá nhân là doanh nghiệp, hợp tác.
Hiện nay, TP. Cần Thơ có hệ thống tài sản trí tuệ gắn với địa danh phong phú, đại diện cho đặc sản, sinh thái và văn hóa sản xuất của vùng. Bên cạnh các nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận (như dâu Hạ Châu, sầu riêng Tân Thới, mãng cầu Thới Hưng, Gạo Cần Thơ, cá thát lát Hậu Giang,...), TP. Cần Thơ còn đóng vai trò là trung tâm kết nối, hỗ trợ khai thác và bảo hộ các chỉ dẫn địa lý liên vùng Đồng bằng sông Cửu Long (như hành tím Vĩnh Châu, Artemia Vĩnh Châu, khóm Cầu Đúc Hậu Giang,...). Đây là những tài sản gắn liền với danh tiếng sản phẩm, vùng sản xuất, tập quán kỹ thuật và cộng đồng chủ thể cùng tạo lập giá trị.
Hàng tháng, Sở Khoa học và Công nghệ theo dõi công báo sở hữu công nghiệp, thống kê dữ liệu về số đơn đăng ký và số văn bằng bảo hộ được cấp (nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giải pháp hữu ích,...) trên địa bàn thành phố.
Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ cho rằng: Công tác quản lý và hỗ trợ bảo vệ quyền Sở hữu trí tuệ tại TP. Cần Thơ thời gian qua đã có nhiều chuyển biến tích cực, gắn liền với mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế vùng.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, ông Phạm Trường Giang, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, cho biết: “Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, tài sản trí tuệ đã và đang trở thành động lực quan trọng then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh của địa phương cũng như của các doanh nghiệp, tổ chức. Đặc biệt, việc khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp đã mang lại những cơ hội lớn về tinh gọn bộ máy, nâng cao tính chủ động và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tuy nhiên, bối cảnh hiện nay cũng đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý, đăng ký, bảo hộ và phát triển tài sản trí tuệ.
Để góp phần phát triển hiệu quả tài sản trí tuệ khi vận hành chính quyền địa phương hai cấp, tại Hội thảo hôm nay chúng ta cần tập trung vào một số vấn đề cụ thể như: Đánh giá, thảo luận về cơ chế, chính sách; Về công tác quản lý và hỗ trợ; Về tăng cường thương mại hóa và nâng cao giá trị tài sản trí tuệ; Về nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ và nhận thức cho cộng đồng. Qua đó đề ra giải pháp để phát triển hiệu quả hơn tài sản trí tuệ của TP. Cần Thơ.
Tôi tin tưởng rằng Hội thảo khoa học hôm nay là diễn đàn quan trọng để chúng ta cùng lắng nghe các góc nhìn đa chiều, những nghiên cứu lý luận và kinh nghiệm thực tiễn từ các chuyên gia, nhà khoa học và các đơn vị thực thi quyền sở hữu trí tuệ; Hội thảo hôm nay sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn công tác quản lý, khai thác hiệu quả tài sản trí tuệ trên địa bàn TP. Cần Thơ trong thời gian tới”.
Những điểm mới pháp luật sở hữu trí tuệ
Tại Hội thảo, ông Nguyễn Văn Bảy, Phó Cục trưởng Cục Sở hữu trí tuệ, Bộ Khoa học và Công nghệ nêu ra những điểm mới pháp luật sở hữu trí tuệ. Đó là:
Sửa đổi, hoàn thiện thủ tục kiểm soát an ninh sáng chế và sáng chế mật trước khi đăng ký ra nước ngoài. Rút ngắn thời hạn thẩm định đơn (thẩm định nội dung đơn sáng chế từ 18 tháng xuống 12 tháng, đơn nhãn hiêu từ 9 tháng xuống 5 tháng, đơn kiểu dáng công nghiệp từ 7 tháng xuống 5 tháng, thời hạn công bố 1 tháng, cắt thủ tục chấp nhận đơn hợp lệ,...) Bổ sung quy định về cơ chế thẩm định nội dung nhanh đơn sáng chế và nhãn hiệu trong thời hạn 3 tháng khi đáp ứng điều kiện do Chính phủ quy định. Chuyển đổi số toàn diện, đơn giản hóa quy trình xử lý đơn, tăng cường hậu kiểm... Thời hạn yêu cầu thẩm định nội dung đơn cấp bằng độc quyền sáng chế: giảm từ 42 xuống 36 tháng.
Quy định khung về việc hỗ trợ tạo ra và khai thác thương mại quyền sở hữu trí tuệ; quy định rõ chủ sở hữu được sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để thực hiện giao dịch dân sự, thương mại, đầu tư,… theo quy định của pháp luật cũng như chính sách khuyến khích khai thác quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng quyền sở hữu trí tuệ để góp vốn hoặc thế chấp để vay vốn. Quy định hình thành cơ sở dữ liệu giá giao dịch quyền sở hữu trí tuệ để minh bạch thị trường, phát triển tổ chức trung gian (định giá, môi giới,)… Luật cũng đã quy định trách nhiệm lập danh mục riêng để quản trị nội bộ đối với quyền sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng điều kiện để ghi nhận giá trị tài sản trong sổ kế toán...
Bổ sung cơ chế bảo hộ kiểu dáng công nghiệp riêng phần (kiểu dáng công nghiệp của phần không tách rời được của sản phẩm) và mở rộng bảo hộ kiểu dáng công nghiệp cho sản phẩm phi vật lý (ví dụ: giao diện đồ họa người dùng (GUI), icon,..); Mở rộng ân hạn không làm mất tính mới của kiểu dáng công nghiệp tương tự như đối với sáng chế, ân hạn là 6 tháng.
Quy định khai thác dữ liệu để nghiên cứu, thử nghiệm, huấn luyện hệ thống AI với điều kiện không ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu, tác giả và tuân thủ các quy định của Chính phủ; Bổ sung quy định từ chối và hủy bỏ văn bằng bảo hộ khi phát hiện chủ thể tạo ra không phải là con người, phù hợp với chính sách chỉ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các đối tượng do con người tạo ra (tác giả là con người); Giao Chính phủ quy định việc phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ được tạo ra có sử dụng AI. Bổ sung quy định kiểm soát việc đăng ký đối với nhãn hiệu chứa tên quốc gia Việt Nam: về cơ bản không bảo hộ độc quyền.
Bổ sung thêm các chế tài, biện pháp dân sự để xử lý hành vi xâm phạm quyền trên môi trường số, quy định rõ trách nhiệm của chủ quản nền tảng số trong việc triển khai các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời nâng mức bồi thường thiệt hại theo luật định để tăng tính răn đe và phù hợp với thực tiễn (1 tỷ đồng thiệt hại vật chất; 10 lần đến 100 lần lương cơ bản đối với thiệt hại về tinh thần).

Theo ông Nguyễn Văn Bảy, mô hình quản lý và phát triển tài sản địa phương khi vận hành chính quyền địa phương 2 cấp vừa có thuận lợi nhưng cũng có những khó khăn:
Thuận lợi là: Cấp xã là nơi nắm rõ nhất về các tri thức truyền thống, quy trình công nghệ làng nghề và các đặc sản có tiềm năng phát triển thành Nhãn hiệu chứng nhận hoặc Chỉ dẫn địa lý. Sự tương tác trực tiếp Tỉnh - Xã giúp các chương trình phát triển tài sản trí tuệ (như Chương trình phát triển tài sản trí tuệ) được thực hiện trúng đối tượng, không bị dàn trải hay nghẽn ở cấp trung gian. Cấp xã là cấp trực tiếp, gần dân; nắm rõ hoạt động sản xuất/kinh doanh tại địa phương, thuận lợi cho công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ.
Còn khó khăn là: Nhiều tài sản trí tuệ mang tính chất liên xã, liên vùng. Trước đây, UBND cấp huyện là chủ thể đứng tên đăng ký hoặc quản lý các tài sản trí tuệ liên xã này. Khi bỏ cấp huyện, việc giao quyền quản trị các tài sản trí tuệ liên xã này cho UBND một xã cụ thể sẽ gây ra xung đột lợi ích, còn giao cho tỉnh thì quá rộng. Điều này buộc mô hình phát triển tài sản trí tuệ cần phải có mô hình mới. Thách thức về nguồn lực của cấp xã khi sở hữu trí tuệ là lĩnh vực chuyên môn sâu, trong khi đó số lượng/chất lượng cán bộ xã có thể chưa đáp ứng.
Giải pháp giải quyết những khó khăn, thác thức này: Thỏa thuận giữa các xã để tìm ra chủ thể quản lý chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận phù hợp hoặc cơ quan nhà nước cấp trên quản lý; Về lâu dài: chuyển cho các hiệp hội quản lý. Tăng cường nguồn lực (nhân lực và các nguồn lực khác) cho cấp xã; Đào tạo chuyên môn cho cán bộ cấp xã…
Giải pháp tháo gỡ khó khăn và thách thức
Theo báo cáo của Trường Đại học Cần Thơ - Viện trường triển khai nhiều chương trình sở hữu trí tuệ tại Đồng bằng sông Cửu Long: Giai đoạn 2020-2026, Đại học Cần Thơ giữ thế hạt nhân dẫn đầu khi đóng góp 77% tổng số đơn và văn bằng bảo hộ sáng chế của toàn TP. Cần Thơ. Xác lập quyền giống cây trồng và chuyển giao các gói kỹ thuật nông - thủy sản thích ứng biến đổi khí hậu, tiến trình thương mại hóa tài sản trí tuệ vẫn gặp nhiều điểm nghẽn về thể chế tài sản công, quy trình định giá tài sản vô hình, độ trễ thẩm định đơn và thiếu vắng cơ chế thử nghiệm (sandbox) cho doanh nghiệp spin-off.

Để tháo gỡ những điểm nghẽn này, PGS.TS Lê Nguyễn Đoàn Khôi, Nguyên Trưởng phòng Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo - Đại học Cần Thơ, Giảng viên cao cấp Trường KInh tế, Đại học Cần Thơ, kiến nghị: “Bộ Khoa học và Công nghệ và Cục Sở hữu trí tuệ, kiến nghị các cấp có thẩm quyền đẩy mạnh chuyển đổi số, rút ngắn thời gian thẩm định nội dung đơn đăng ký sắng chế và sáng pháp hữu ích có nguồn gốc từ trường đại học, viện nghiên cứu công lập. Cần áp dụng quy chế xét nghiệm ưu tiên (Fast-track) đối với các giải pháp kỹ thuật thuộc lĩnh vực công nghệ chiến lược, kinh tế xanh và ứng phó biến đổi khí hậu. Ban hành Thông tư hướng dẫn chuẩn hóa phương pháp định giá tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước, xác lập cơ chế phân định rõ rủi ro thị trường và chấp nhận nguyên tắc định giá theo giá trị kinh tế kỳ vọng.
UBND TP. Cần Thơ và Sở Khoa học và Công nghệ TP. Cần Thơ, tiếp tục duy trì và đơn giản hóa thủ tục thanh toán kinh phí hỗ trợ đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ. Trình Chính phủ phê duyệt Đề án Sandbox cho phép mô hình PPP tại KVIP và thành lập doanh nghiệp spin-off tại Đại học Cần Thơ. Bố trí ngân sách thành lập Quỹ đầu tư mạo hiểm mồi và Quỹ PoC địa phương cho sản phẩm OCOP, đồng thời nâng cấp Sàn giao dịch công nghệ, tổ chức Techmart kết nối Đại học Cần Thơ với mạng lưới doanh nghiệp tại các phường, xã trên toàn TP. Cần Thơ và Đồng bằng sông Cửu Long”.

Tại Hội thảo, TS. Hoàng Thịnh Nhân, Trường Đại học Nguyễn Tất Thành, cho rằng: Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ không chỉ gắn với việc xác lập và bảo hộ quyền mà còn có thể được phát triển, chuyển giao và thương mại hóa để tạo ra giá trị kinh tế - xã hội. Do đó, quản trị tài sản trí tuệ cần được tiếp cận xuyên suốt từ xác lập, bảo hộ quyền đến quản lý, chuyển giao, khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Tuy nhiên, khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu - tài sản được bảo hộ - sản phẩm thương mại, cho thấy quá trình khai thác giá trị tài sản trí tuệ còn đặt ra các vấn đề về quản trị danh mục, phát triển công nghệ, định giá, chuyển giao và phối hợp giữa các chủ thể.
“Trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ không chỉ là đối tượng xác lập và bảo hộ quyền mà còn là nguồn lực phục vụ phát triển công nghệ, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Hiệu quả quản trị tài sản trí tuệ được xem xét thông qua các chỉ báo về quản lý danh mục, phát triển công nghệ, chuyển giao, cấp phép, doanh thu và các kết quả khai thác có dữ liệu xác minh, thay vì chủ yếu dựa trên số lượng kết quả nghiên cứu hoặc tài sản được bảo hộ. Cách tiếp cận này phản ánh sự chuyển dịch từ quản lý quyền sở hữu trí tuệ sang quản trị tài sản gắn với mục tiêu tạo giá trị. Tại Việt Nam, khung pháp lý về sở hữu trí tuệ, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã từng bước được hoàn thiện, đồng thời năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia được ghi nhận qua một số chỉ số quốc tế. Tuy nhiên, quá trình chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị thị trường vẫn đặt ra những yêu cầu về quản trị danh mục tài sản, phát triển công nghệ, định giá, năng lực của tổ chức trung gian và mức độ phối hợp giữa các chủ thể. Do đó, bên cạnh việc thúc đẩy tạo lập tài sản trí tuệ, cần chú trọng năng lực lựa chọn, phát triển và thương mại hóa tài sản dựa trên các tiêu chí về khả năng ứng dụng, nhu cầu thị trường và nguồn lực khai thác.” TS. Hoàng Thịnh Nhân chia sẻ.
Huỳnh Biển























