Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 1/2026 ước giảm 0,2% so với tháng trước (tốc độ tăng, giảm chỉ số IIP tháng 1/2026 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn: Đà Nẵng tăng 7,9%; Vĩnh Long tăng 5,6%; Hải Phòng tăng 3,1%; Đồng Nai tăng 2,5%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,1%; Bắc Ninh tăng 0,4%; Quảng Ninh giảm 2,1%; Cần Thơ giảm 2,5%; Quảng Ngãi giảm 3,1%) và tăng 21,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất và phân phối điện tăng 14,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,6%; ngành khai khoáng tăng 10,3%.

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tốc độ tăng, giảm chỉ số sản xuất tháng 1/2026 của một số ngành trọng điểm cấp II so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 41,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 36,6%; sản xuất kim loại tăng 35,4%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 35,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,9%; sản xuất đồ uống tăng 26,1%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 25,8%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 25,6%; sản xuất trang phục tăng 25,3%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa... tăng 21,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 21,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 20,9%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 17,7%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành tăng thấp: Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 9,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 6,2%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 1/2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao.

Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 1 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Phú Thọ tăng 49,2%; Bắc Ninh tăng 42,0%; Hải Phòng tăng 38,8%; Ninh Bình tăng 36,2%. Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Sơn La tăng 83,8%; Phú Thọ tăng 55,7%; Lào Cai tăng 49,2%.

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm. 

Các địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 1 tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Cà Mau tăng 6,4%; Tuyên Quang tăng 5,6%; Thái Nguyên tăng 3,8%. Các địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng thấp hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước: Thái Nguyên tăng 1,1%; Khánh Hòa tăng 0,5%; Huế giảm 4,4%. Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành khai khoáng giảm so với cùng kỳ năm trước: Quảng Ngãi giảm 8,1%; Đồng Tháp giảm 8,4%; Thái Nguyên giảm 15,1%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tháng 1/2026 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 92,7%; Xe máy tăng 54,3%; Xi măng tăng 48,9%; Ô tô tăng 48,5%; Thép cán tăng 38,0%; Thủy hải sản chế biến tăng 30,7%; Sữa bột và sơn hóa học cùng tăng 29,1%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân Ure giảm 40,0%; điện thoại di động giảm 6,1%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/1/2026 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,3% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 0,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và giảm 0,2%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,0% và tăng 6,0%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,2% so với thời điểm tháng trước và tăng 1,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 4,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 1,9%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,1% và tăng 1,6%.

Minh Anh