Từ nghiên cứu đến hình thành ngành công nghiệp quy mô lớn
Theo Quyết định số 1466/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký ban hành, Kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học ngành nông nghiệp và môi trường đặt mục tiêu xây dựng ngành công nghiệp sinh học có vai trò nền tảng trong đổi mới mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Giai đoạn 2026-2030, Việt Nam sẽ ưu tiên nghiên cứu, phát triển và ứng dụng các công nghệ sinh học thế hệ mới như công nghệ di truyền, công nghệ tế bào, công nghệ sinh học tiên tiến, chọn giống chính xác và chọn giống theo hệ gen. Đây được xem là những công nghệ cốt lõi để tạo ra các giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản thế hệ mới cùng nhiều sản phẩm sinh học phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Bên cạnh đó, các công nghệ bảo quản, chế biến sâu và các giải pháp sinh học trong bảo vệ thực vật, thú y, thủy sản, lâm nghiệp và bảo tồn đa dạng sinh học cũng sẽ được ưu tiên phát triển nhằm nâng cao giá trị gia tăng của nông sản và từng bước thay thế các sản phẩm có nguồn gốc hóa học.
Một trong những mục tiêu đáng chú ý là số lượng doanh nghiệp công nghiệp sinh học tăng khoảng 50% về quy mô đầu tư và tốc độ tăng trưởng trong giai đoạn này. Đồng thời, các sản phẩm công nghệ sinh học sản xuất trong nước được kỳ vọng sẽ thay thế ít nhất 50% sản phẩm nhập khẩu cùng chủng loại, góp phần nâng cao năng lực tự chủ công nghệ.
Để tạo nền tảng cho hoạt động nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, kế hoạch cũng đặt mục tiêu xây dựng ít nhất 5 phòng thí nghiệm trọng điểm và 5 phòng thí nghiệm chuyên ngành đạt tiêu chuẩn quốc tế, đủ năng lực triển khai các nghiên cứu quy mô công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hướng tới trung tâm công nghệ sinh học của khu vực
Không dừng lại ở mục tiêu thay thế hàng nhập khẩu, kế hoạch phát triển công nghiệp sinh học còn hướng tới xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và thị trường công nghệ sinh học có sức cạnh tranh quốc tế.
Theo định hướng đến giai đoạn 2031-2035 và tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam sẽ từng bước làm chủ các công nghệ sinh học chiến lược, công nghệ chỉnh sửa gen và các nền tảng công nghệ thế hệ mới để tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng cao phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Mục tiêu dài hạn là đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và cung cấp dịch vụ công nghệ sinh học thông minh của khu vực châu Á, đồng thời hình thành ngành công nghiệp sinh học như một ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng của lĩnh vực nông nghiệp và môi trường.
Trong giai đoạn này, số doanh nghiệp công nghiệp sinh học được kỳ vọng tăng khoảng 70% về quy mô đầu tư và tốc độ tăng trưởng. Các sản phẩm công nghệ sinh học trong nước sẽ thay thế tối thiểu 60% sản phẩm nhập khẩu cùng loại, đồng thời đóng góp khoảng 15% giá trị gia tăng của toàn ngành công nghiệp sinh học.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Chính phủ cũng định hướng tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ nghiên cứu, thương mại hóa công nghệ và phát triển doanh nghiệp, tạo điều kiện để các kết quả nghiên cứu nhanh chóng được chuyển thành sản phẩm quy mô công nghiệp.
Việc phát triển công nghiệp sinh học không chỉ góp phần nâng cao năng suất và chất lượng nông nghiệp mà còn được kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng mới, tăng khả năng tự chủ công nghệ, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu và nâng cao vị thế của nông nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Minh Thành (t/h)





















