
Thực thi thống nhất để doanh nghiệp biết chắc thế nào là đúng
Thuế và hải quan vừa là công cụ quản lý nhà nước, thu ngân sách, kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu, vừa tác động trực tiếp đến chi phí, thời gian, khả năng cạnh tranh và quyết định đầu tư của doanh nghiệp. Bởi vậy, chất lượng chính sách và cách thức tổ chức thực thi có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường kinh doanh.
Theo ông Nguyễn Huy Cường, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chống hàng giả và Bảo vệ thương hiệu Việt Nam, thời gian qua, công tác cải cách thuế, hải quan đã có những chuyển biến tích cực. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, hóa đơn điện tử, khai thuế điện tử, thủ tục hải quan điện tử, quản lý rủi ro và kiểm tra sau thông quan đã góp phần giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
Tuy nhiên, nhìn từ thực tế hoạt động của doanh nghiệp, những vướng mắc phát sinh không phải lúc nào cũng bắt nguồn từ bản thân chính sách, mà có trường hợp liên quan đến cách hiểu và cách thực thi.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp phải đồng thời tuân thủ nhiều quy định về thuế, hóa đơn, chứng từ, xuất nhập khẩu, nguồn gốc hàng hóa, mã hàng, xuất xứ và kiểm tra chuyên ngành. Có trường hợp doanh nghiệp đã nghiên cứu quy định và thực hiện theo cách hiểu được cho là phù hợp, nhưng khi cơ quan quản lý kiểm tra lại phát sinh cách hiểu khác.
Khi đó, doanh nghiệp rơi vào thế bị động. Việc phải điều chỉnh, bổ sung hồ sơ hoặc giải trình nhiều lần không chỉ làm mất thời gian, phát sinh chi phí mà còn tạo tâm lý e ngại trong hoạt động kinh doanh.
Từ thực tế này, ông Nguyễn Huy Cường đưa ra ba đề xuất liên quan đến chất lượng chính sách và tính thống nhất trong quá trình thực thi.
Thứ nhất, chính sách thuế, hải quan cần được xây dựng theo hướng rõ ràng, dễ hiểu, ổn định và có khả năng dự báo.Theo ông Cường, một quy định mà doanh nghiệp phải hỏi nhiều nơi, mỗi nơi giải thích một cách thì trên thực tế vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về tính rõ ràng. Sự ổn định trong cách hiểu và áp dụng chính sách là cơ sở để doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, cần thiết lập cơ chế thống nhất trong giải đáp, hướng dẫn và thực thi chính sách.Cùng một quy định không nên có những cách diễn giải hoặc áp dụng khác nhau giữa các cơ quan, đơn vị thực thi. Đồng thời, trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý cần được nâng cao, nhất là đối với những nội dung có ảnh hưởng trực tiếp đến nghĩa vụ và quyền lợi của doanh nghiệp.
Thứ ba, cần có cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khi đã thực hiện theo hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền. Nếu sau đó phát sinh sự thay đổi về cách hiểu hoặc hướng dẫn, doanh nghiệp không nên phải gánh toàn bộ rủi ro pháp lý.
Theo ông Cường, nếu doanh nghiệp thực hiện theo hướng dẫn ở thời điểm hiện tại nhưng nhiều năm sau lại bị xem xét theo một cách hiểu khác, rủi ro pháp lý cuối cùng có thể dồn về phía doanh nghiệp. Điều này làm giảm khả năng dự báo và khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Một vấn đề khác được ông Nguyễn Huy Cường lưu ý là cần phân biệt sai sót không cố ý với hành vi cố tình gian lận. Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là tại doanh nghiệp vừa và nhỏ, sai sót về thủ tục, chứng từ hoặc nghiệp vụ có thể xảy ra. Những trường hợp này cần được phân biệt với hành vi cố tình khai sai để trốn thuế, gian lận xuất xứ hoặc buôn lậu.
Từ đó, ông Cường đề xuất cách xử lý cần căn cứ vào tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi. Sai sót không cố ý cần được hướng dẫn khắc phục; vi phạm phải được xử lý tương xứng; hành vi cố tình gian lận phải bị xử lý nghiêm.
Nếu mọi sai sót đều khiến doanh nghiệp lo ngại bị xử lý như hành vi gian lận, tâm lý sợ sai, sợ kiểm tra có thể gia tăng. Khi đó, chính sách quản lý có thể làm phát sinh thêm chi phí tuân thủ và ảnh hưởng đến sự chủ động của doanh nghiệp. 
Tuân thủ tốt phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí
Quản lý rủi ro trong lĩnh vực thuế, hải quan được ông Nguyễn Huy Cường đánh giá là hướng đi phù hợp. Tuy nhiên, để phương thức này phát huy hiệu quả, cần tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa doanh nghiệp tuân thủ tốt và doanh nghiệp có rủi ro cao.
Đối với nhóm vấn đề này, ông Cường đưa ra một số đề xuất cụ thể.
Thứ nhất, cần quản lý doanh nghiệp theo mức độ tuân thủ và mức độ rủi ro. Đối với doanh nghiệp nhiều năm thực hiện đúng nghĩa vụ thuế, hồ sơ minh bạch và không có lịch sử vi phạm, cần giảm mức độ kiểm tra, giảm yêu cầu giải trình và ưu tiên giải quyết thủ tục. Ngược lại, nguồn lực kiểm tra, thanh tra chuyên sâu cần tập trung vào doanh nghiệp có dấu hiệu rủi ro cao.
Theo ông Cường, tuân thủ tốt phải giúp doanh nghiệp giảm chi phí tuân thủ. Đây không chỉ là lợi ích dành cho doanh nghiệp mà còn là một công cụ quản lý. Khi nhận thấy việc chấp hành pháp luật mang lại lợi ích thiết thực, doanh nghiệp sẽ có thêm động lực duy trì sự tuân thủ lâu dài.
Thứ hai, chuyển đổi số phải làm giảm thực chất số lượng thủ tục, giấy tờ và thời gian giải trình. Mục tiêu cuối cùng của chuyển đổi số trong lĩnh vực thuế, hải quan không chỉ là chuyển hồ sơ giấy thành hồ sơ điện tử. Điều doanh nghiệp cần là ít thủ tục hơn, ít lần khai báo hơn và không phải cung cấp lặp lại những thông tin đã có trong hệ thống của cơ quan nhà nước.
Để thực hiện yêu cầu này, ông Cường đề xuất tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan thuế, hải quan và các cơ quan quản lý chuyên ngành. Dữ liệu Nhà nước đã có cần được cơ quan quản lý chủ động khai thác, tránh chuyển chi phí quản lý sang cho doanh nghiệp.
Thứ ba, hoạt động kiểm tra, thông quan cần dựa trên mức độ rủi ro và hạn chế trùng lặp.Đối với hoạt động xuất nhập khẩu, thời gian thông quan có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Một lô hàng chậm thông quan có thể làm phát sinh chi phí lưu kho, lưu bãi, vận chuyển, nhân công và nhiều khoản liên quan khác.
Vì vậy, bên cạnh yêu cầu kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại và gian lận xuất xứ, hoạt động quản lý cần tính đến chi phí thực tế mà mỗi thủ tục kiểm tra tạo ra cho doanh nghiệp và nền kinh tế.
Theo ông Cường, kiểm tra là cần thiết nhưng phải đúng đối tượng, đúng mức độ rủi ro và tránh trùng lặp. Với doanh nghiệp có lịch sử tuân thủ tốt, cần tăng cường cơ chế thông quan thuận lợi và chuyển trọng tâm sang hậu kiểm.
Thứ tư, cộng đồng doanh nghiệp cần được tham gia thực chất vào quá trình xây dựng và sửa đổi chính sách.Những đối tượng trực tiếp chịu tác động cần có cơ hội đóng góp ý kiến ngay từ giai đoạn xây dựng, thay vì chỉ được biết và tổ chức thực hiện sau khi chính sách đã ban hành.
Thứ năm, việc đánh giá hiệu quả chính sách cần tính đến chi phí tuân thủ của doanh nghiệp.Theo ông Cường, không nên chỉ xem xét Nhà nước thu được bao nhiêu hoặc kiểm tra, xử lý được bao nhiêu trường hợp, mà cần đánh giá cả thời gian, chi phí và nguồn lực doanh nghiệp phải bỏ ra để đáp ứng yêu cầu quản lý.
Các đề xuất của ông Nguyễn Huy Cường hướng tới sự phân định rõ trong phương thức quản lý: Xử lý nghiêm hành vi gian lận nhưng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật. Muốn đạt được yêu cầu đó, chính sách cần minh bạch, ổn định, dễ dự báo; quá trình thực thi phải thống nhất; quản lý dựa trên rủi ro; chuyển đổi số thực sự làm giảm thủ tục và doanh nghiệp tuân thủ tốt được hưởng những lợi ích tương xứng.
Hải Minh























