
Viện Bảo vệ thực vật vừa phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo khoa học “Góp ý xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (ICM) theo hướng sinh học cho cây sầu riêng”.
Đừng để quy trình nằm trên giấy
Hội thảo nằm trong khuôn khổ nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh “Nghiên cứu xây dựng quy trình quản lý tổng hợp (ICM) theo hướng sinh học cho cây sầu riêng tại tỉnh Đắk Nông (nay là tỉnh Lâm Đồng)”, với sự tham gia của các nhà khoa học, cơ quan quản lý, địa phương và nông dân trồng sầu riêng.
Mục tiêu của quy trình là hướng người dân đến phương thức canh tác an toàn, bền vững, trong đó tăng sử dụng phân bón hữu cơ, chế phẩm sinh học để cải tạo đất, nâng sức khỏe cây; kết hợp thuốc bảo vệ thực vật sinh học, dầu khoáng và một số hoạt chất hóa học có thời gian phân hủy nhanh trong quản lý sâu bệnh.
Nhưng từ hội thảo, một yêu cầu được đặt ra khá rõ: Quy trình càng nhiều kỹ thuật càng phải dễ sử dụng ngoài vườn.

PGS.TS Nguyễn Văn Minh, Trưởng khoa Nông lâm nghiệp - Trường Đại học Tây Nguyên, đánh giá dự thảo quy trình khá đầy đủ, chi tiết nhưng cần tiếp tục điều chỉnh để nông dân dễ áp dụng.
Theo ông Minh, trước hết cần chỉ ra rõ điểm khác biệt giữa ICM theo hướng sinh học với các quy trình canh tác sầu riêng đã được ban hành. Quy trình cũng cần phân biệt kỹ thuật chăm sóc, bón phân giữa vườn trồng thuần và trồng xen; đồng thời tính đến sự khác nhau về thời tiết, đất đai giữa các vùng sản xuất.
Với hai giống sầu riêng chủ lực Ri6 và Dona, hướng dẫn kỹ thuật cũng cần sát hơn với đặc điểm sinh trưởng từng giống. Những nội dung tưởng như rất cụ thể với người trồng như lượng nước tưới, kỹ thuật tỉa cành, tạo tán hay lượng phân bón theo từng giai đoạn cũng cần được lượng hóa.

TS Hoàng Mạnh Cường, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông lâm nghiệp Tây Nguyên, đề nghị quy trình tập trung vào ba nhóm việc chính: phân bón, nước tưới và bảo vệ thực vật.
Trong đó, cần cụ thể lượng phân bón, nước tưới và quản lý dinh dưỡng, nhất là kiểm soát lượng đạm trong quá trình chăm sóc. Phạm vi áp dụng của quy trình cũng phải được xác định rõ để tránh tình trạng một hướng dẫn nhưng áp dụng cứng nhắc cho những điều kiện sản xuất khác nhau.
Cách trình bày cũng là vấn đề được nhiều ý kiến lưu tâm. Theo các chuyên gia, thay vì dày đặc thuật ngữ, quy trình nên ngắn gọn, dễ hiểu, có thể chuyển thành bảng biểu, lịch nông vụ để nông dân nhìn vào là biết từng giai đoạn cần làm gì.

TS Đặng Bá Đàn, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia (Chi nhánh Tây Nguyên), cũng đề nghị quy trình đối với Ri6 và Dona phải có nội dung phù hợp đặc điểm từng giống, đồng thời có độ mở để điều chỉnh theo điều kiện thực tế.
Từ hội thảo ra thẳng vườn sầu riêng
Không chỉ các nhà khoa học, chính những người đang trồng sầu riêng cũng chỉ ra khoảng cách giữa một quy trình kỹ thuật và việc triển khai ngoài thực tế.
Đại diện các hộ sản xuất đề nghị sớm xây dựng mô hình ngay sau mùa thu hoạch, với hướng dẫn cụ thể về rửa vườn, tỉa cành, tạo tán và sử dụng phân bón theo từng thời điểm.
Theo các hộ dân, nếu có mô hình thực tế tại địa phương, nông dân có thể trực tiếp quan sát quá trình chăm sóc trước và sau thu hoạch, nhất là trong điều kiện mùa mưa. Đây cũng là cách để kiểm chứng quy trình trước khi nhân rộng.
Đại diện chính quyền và ngành nông nghiệp địa phương cho biết sản xuất sầu riêng hiện còn những vướng mắc về thủ tục pháp lý, tổ chức mô hình trồng xen và thông tin kỹ thuật chưa thống nhất. Thời tiết bất lợi cùng sự xuất hiện của các đối tượng dịch bệnh mới cũng khiến yêu cầu cập nhật giải pháp kỹ thuật ngày càng cấp thiết.
Đối với nhiệm vụ khoa học và công nghệ, cơ quan quản lý đề nghị nhóm thực hiện làm rõ phạm vi áp dụng, bổ sung căn cứ pháp lý, rà soát các quy định kỹ thuật đã ban hành và tập trung hơn vào những nội dung kỹ thuật cốt lõi.
Các tiêu chí cũng cần được lượng hóa bằng những chỉ số cụ thể, để quy trình không chỉ đúng về lý thuyết mà còn có thể kiểm tra, đánh giá khi áp dụng trên đồng ruộng.

Tiếp thu các ý kiến, TS. Lại Tiến Dũng, Viện Bảo vệ thực vật, chủ nhiệm nhiệm vụ, cho biết nhóm thực hiện sẽ tiếp tục hoàn thiện quy trình theo hướng cụ thể, dễ áp dụng.
Dự kiến, quy trình sẽ được thể hiện bằng bảng biểu và lịch nông vụ, xác định thời điểm sử dụng phân bón, chế phẩm sinh học, thuốc bảo vệ thực vật; đồng thời điều chỉnh theo đặc điểm từng giống sầu riêng và điều kiện đất đai từng khu vực.
Nhóm cũng nghiên cứu ứng dụng công nghệ, trong đó có hệ thống tưới thông minh có khả năng tự động điều chỉnh lượng nước và phân bón theo nhu cầu của cây.
Từ những góp ý tại hội thảo, yêu cầu đặt ra không chỉ là xây dựng một quy trình ICM “đúng” mà quan trọng hơn là xây dựng một quy trình nông dân có thể làm đúng.
Khi người trồng biết rõ lúc nào cần tưới, bón bao nhiêu, phòng bệnh thế nào và sử dụng vật tư ra sao, quy trình mới thực sự đi được từ phòng nghiên cứu ra vườn cây. Qua đó, góp phần kiểm soát sâu bệnh, sử dụng hợp lý phân bón, nước tưới và vật tư đầu vào, hướng đến sản xuất sầu riêng an toàn, bền vững tại Lâm Đồng.
Hoàng Phương






















