Biển trở thành không gian tăng trưởng mới

Chương trình hành động số 34-CTr/TW ngày 28/7/2026 thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW xác định biển là không gian phát triển chiến lược, đồng thời là một động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.

Điểm đáng chú ý là không gian biển được nhìn nhận rộng hơn, bao gồm biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển. Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển thay vì chỉ tập trung vào khai thác các nguồn tài nguyên truyền thống.

Theo đó, Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 sẽ được rà soát, cập nhật, bảo đảm kết nối giữa đất liền, biển, vùng trời và các không gian phát triển mới.

Không gian kinh tế biển được định hướng mở rộng sang logistics, năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và các ngành dịch vụ mới.
Không gian kinh tế biển được định hướng mở rộng sang logistics, năng lượng ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao và các ngành dịch vụ mới.

Khi các hoạt động hàng hải, năng lượng, thủy sản, du lịch, công nghiệp và bảo tồn được phân vùng, kết nối trên cùng nền tảng dữ liệu, hiệu quả sử dụng không gian và hạ tầng có thể được nâng lên. Một cảng biển hiện đại, chẳng hạn, không chỉ tạo doanh thu từ khai thác cảng mà còn kéo theo vận tải, kho bãi, logistics, bảo hiểm, tài chính, sửa chữa, đóng tàu và công nghiệp phụ trợ.

Kinh tế hàng hải vì vậy tiếp tục được xác định là một trụ cột, với định hướng phát triển cảng biển xanh, thông minh, hiện đại; các cảng cửa ngõ, trung tâm trung chuyển quốc tế và mạng lưới logistics kết nối đường biển với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và hàng không.

Công nghệ mở thêm những lớp giá trị

Không gian biển cũng đang được mở sang những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ cao hơn. Chương trình hành động số 34-CTr/TW định hướng xây dựng dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển và đại dương, phát triển hạ tầng số biển; ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, viễn thám và Internet vạn vật trong quan trắc, giám sát và dự báo.

Điều này mở ra những giá trị mới bên cạnh hoạt động khai thác trực tiếp. Năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo và vận hành các công trình ngoài khơi có thể tạo thêm thị trường cho doanh nghiệp công nghệ và công nghiệp hỗ trợ.

Một số ngành biển mới cũng được đặt ra như nuôi biển công nghệ cao, y - dược biển, công nghệ sinh học biển, khử mặn, điện sóng, hydro, amoniac xanh, hạ tầng cáp ngầm và trung tâm dữ liệu ven biển, dưới biển. Năng lượng tái tạo ngoài khơi, đặc biệt là điện gió, cũng được định hướng thúc đẩy.

Trong thủy sản, trọng tâm chuyển dần sang tổ chức theo chuỗi giá trị, tăng công nghệ trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản và chế biến, đồng thời phát triển nuôi biển xa bờ và nuôi biển công nghiệp.

Để các lĩnh vực này phát triển đồng bộ, chương trình đặt yêu cầu hoàn thiện hạ tầng biển, ven biển, hải đảo và logistics, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, thúc đẩy hợp tác công - tư và các công cụ tài chính xanh.

Cùng với phát triển kinh tế, yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái biển được đặt song song, từ phục hồi nguồn lợi thủy sản, bảo tồn đa dạng sinh học đến kiểm soát nguồn thải và phát triển kinh tế tuần hoàn.

Nếu được triển khai đồng bộ, biển sẽ không chỉ là nơi khai thác tài nguyên mà trở thành không gian tạo ra nhiều lớp giá trị từ logistics, năng lượng, thủy sản, du lịch đến công nghệ cao, qua đó mở thêm dư địa cho tăng trưởng dài hạn.

Minh Thành (t/h)