Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo mô hình hợp tác xã với nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng góp vốn, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. Ảnh: Minh họa
Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hoạt động theo mô hình hợp tác xã với nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, bình đẳng, cùng góp vốn, cùng quản lý và cùng hưởng lợi. Ảnh minh họa

Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân sẽ được cơ cấu lại toàn diện theo hướng tinh gọn, an toàn và minh bạch hơn, với mục tiêu mỗi đơn vị hành chính cấp xã chỉ còn tối đa một quỹ tín dụng nhân dân. Đây là một trong những nội dung trọng tâm của Đề án cơ cấu lại hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 vừa được Ngân hàng Nhà nước ban hành, theo Quyết định số 1266/QĐ-NHNN, với một loạt quy định mới về địa bàn, vốn, quản trị và liên kết hệ thống.

Đề án đặt mục tiêu xây dựng hệ thống quỹ tín dụng nhân dân hoạt động an toàn, hiệu quả, lấy thành viên làm trung tâm, đồng thời nâng cao vai trò điều phối, hỗ trợ của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam trong toàn hệ thống.

Hoàn tất sắp xếp mạng lưới trước năm 2035

Theo Đề án, các địa phương có từ hai quỹ tín dụng nhân dân trở lên sẽ phải thực hiện sáp nhập, hợp nhất, giải thể hoặc chấm dứt hoạt động theo quy định để bảo đảm mỗi xã chỉ còn tối đa một quỹ tín dụng nhân dân. Mô hình quỹ liên xã chỉ được xem xét trong trường hợp đáp ứng các điều kiện về quy mô, địa bàn và nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội.

Lộ trình đặt ra là đến năm 2030 hoàn thành xử lý khoảng 50% số quỹ thuộc diện phải sắp xếp, đồng thời kết thúc toàn bộ quá trình trước năm 2035 hoặc sớm hơn nếu đủ điều kiện. Trong thời gian triển khai, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chưa cấp phép thành lập quỹ tín dụng nhân dân mới.

Song song với việc tinh gọn mạng lưới, Đề án yêu cầu nâng cao năng lực tài chính của các quỹ. Đến năm 2030, quỹ hoạt động trên địa bàn một xã phải có vốn điều lệ tối thiểu 5 tỷ đồng, trong khi quỹ liên xã phải đạt tối thiểu 10 tỷ đồng. Quy định về vốn pháp định cũng sẽ được nghiên cứu điều chỉnh phù hợp với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Xử lý dứt điểm các quỹ yếu kém

Đề án xác định mục tiêu xử lý triệt để các quỹ tín dụng nhân dân hoạt động yếu kém, trong đó hoàn thành thí điểm phá sản đối với những quỹ đang bị kiểm soát đặc biệt nhưng không còn khả năng phục hồi trước năm 2030.

Các quỹ có quy mô nhỏ, hoạt động kém hiệu quả cũng thuộc diện cơ cấu lại. Khi sáp nhập hoặc hợp nhất, đơn vị tiếp nhận chỉ tiếp nhận tài sản tốt và các nghĩa vụ nợ tương ứng, trong khi tài sản xấu sẽ được xử lý theo cơ chế riêng nhằm hạn chế rủi ro lan truyền trong hệ thống.

Đề án đồng thời siết chặt yêu cầu về quản trị, điều hành và kiểm soát nội bộ. Tiêu chuẩn đối với hội đồng quản trị, ban điều hành, ban kiểm soát và kiểm toán nội bộ sẽ được quy định theo quy mô từng quỹ.

Đối với các quỹ yếu kém hoặc có quy mô lớn, Ban Kiểm soát phải có ít nhất một thành viên độc lập là nhân sự của Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam. Trong giai đoạn 2026-2030, ngân hàng này cũng được quyền cử nhân sự tham gia điều hành hoặc thay thế người quản lý khi cần thiết để bảo đảm an toàn hoạt động.

Một điểm mới khác là toàn bộ quỹ tín dụng nhân dân sẽ sử dụng thống nhất hệ thống công nghệ thông tin, sản phẩm và dịch vụ do Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam cung cấp, đồng thời thực hiện vai trò đại lý và chịu sự kiểm tra, giám sát thường xuyên.

Theo định hướng lâu dài, các quỹ sẽ tập trung huy động vốn và cho vay chủ yếu đối với thành viên, đồng thời áp dụng giới hạn cấp tín dụng tương tự các tổ chức tín dụng khác.

Đề án cũng yêu cầu tất cả quỹ tín dụng nhân dân tham gia Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống (Quỹ bảo toàn). Cơ cấu đóng góp được điều chỉnh theo hướng giảm phí bảo hiểm tiền gửi nhưng tăng mức đóng Quỹ bảo toàn, bảo đảm tổng mức đóng không thay đổi.

Quyền giám sát của thành viên cũng được tăng cường thông qua Đại hội thành viên. Lãnh đạo quỹ phải công khai, minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình đối với thành viên và cộng đồng.

Tăng vai trò trung tâm của Ngân hàng Hợp tác xã

Theo Đề án, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam sẽ trở thành trung tâm liên kết toàn hệ thống, đảm nhiệm các chức năng điều hòa vốn, hỗ trợ thanh khoản, kiểm tra, kiểm toán, quản trị rủi ro và thúc đẩy chuyển đổi số.

Để nâng cao năng lực tài chính, ngân hàng dự kiến được bổ sung tối thiểu 5.000 tỷ đồng vốn điều lệ từ ngân sách nhà nước trong giai đoạn 2026-2030 và thêm ít nhất 5.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2031-2045. Đồng thời, ngân hàng sẽ huy động thêm vốn góp từ các quỹ thành viên, tổ chức trong nước và các đối tác nước ngoài đáp ứng điều kiện theo quy định.

Ngoài nhiệm vụ điều hòa nguồn vốn và hỗ trợ thanh khoản, Ngân hàng Hợp tác xã còn thực hiện thẩm định các khoản vay vượt giới hạn của quỹ, tổ chức cho vay hợp vốn và cơ cấu danh mục tín dụng theo hướng ưu tiên phục vụ các quỹ thành viên.

Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống cũng sẽ được sử dụng để hỗ trợ xử lý các quỹ yếu kém ngay từ giai đoạn sớm nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh rủi ro trên diện rộng.

Trong lộ trình hiện đại hóa, hệ thống sẽ xây dựng các trung tâm dùng chung về công nghệ thông tin, thanh toán, kiểm toán độc lập, mua bán nợ, bảo hiểm, nghiên cứu chiến lược, tư vấn pháp lý và hỗ trợ khu vực do Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam quản lý.

Đề án cũng khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) trong giám sát, cảnh báo sớm rủi ro và phát hiện dấu hiệu mất an toàn tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả quản trị toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Hợp tác xã sẽ hỗ trợ các quỹ mở rộng cung cấp sản phẩm, dịch vụ tài chính cho thành viên, đặc biệt là các hợp tác xã, đồng thời thúc đẩy các chương trình tài chính xanh và phát triển bền vững.

Về dài hạn, Ngân hàng Nhà nước sẽ nghiên cứu xây dựng luật riêng đối với tổ chức tín dụng hợp tác xã, đồng thời định vị quỹ tín dụng nhân dân là một bộ phận của hệ thống tài chính vi mô, tạo nền tảng pháp lý đồng bộ cho quá trình phát triển trong giai đoạn mới.

Đề án được kỳ vọng không chỉ giải quyết những tồn tại của hệ thống hiện nay mà còn tạo nền tảng xây dựng mạng lưới quỹ tín dụng nhân dân hoạt động an toàn, hiện đại và minh bạch hơn, tiếp tục giữ vai trò là kênh cung ứng vốn quan trọng cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và kinh tế hợp tác trong dài hạn.

Hoàng Phương