Tính đến thời điểm 22/12/2025, tổng phương tiện thanh toán tăng 14,98% so với cuối năm 2024 (cùng thời điểm năm trước tăng 9,15%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,68% (cùng thời điểm năm trước tăng 8,79%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 17,65% (cùng thời điểm năm trước tăng 13,4%).

Năm 2025, lãi suất điều hành tiếp tục duy trì ở mức thấp, các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí hoạt động để giảm lãi suất cho vay. Tháng 11, lãi suất tiền gửi bình quân bằng đồng Việt Nam của ngân hàng thương mại (NHTM) trong nước ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,5%-4,3%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,6%-5,6%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 4,9%-6,2%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ trên 12 tháng đến 24 tháng và 6,7%-7,4%/năm đối với kỳ hạn trên 24 tháng. Lãi suất cho vay bình quân bằng đồng Việt Nam của NHTM đối với các khoản vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 6,6%-8,9%/năm; lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN (4,0%/năm).

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Tỷ giá trung tâm năm 2025 về cơ bản ổn định do NHNN điều hành tỷ giá phù hợp, can thiệp ngoại tệ linh hoạt, hạn chế áp lực biến động bất thường đối với tỷ giá thị trường, góp phần ổn định và đáp ứng nhu cầu ngoại tệ hợp pháp. Tại thời điểm ngày 31/12/2025, tỷ giá trung tâm VND/USD ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với thời điểm cuối năm 2024. Tỷ giá niêm yết mua - bán của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương ở mức 26.047-26.377 VND/USD, tăng 3,28%-3,23% so với cuối năm 2024.

Về tín dụng chính sách, tính đến ngày 29/12/2025, tổng số vốn giải ngân các Chương trình tín dụng chính sách xã hội đạt 140,9 nghìn tỷ đồng với hơn 2,2 triệu lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách vay vốn. Tổng dư nợ tín dụng chính sách xã hội đạt trên 414,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2024 với hơn 6,7 triệu hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác còn dư nợ.

Doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm quý IV/2025 ước tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 1,1%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 11,1%. Tính chung năm 2025, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm ước đạt 237,2 nghìn tỷ đồng, tăng 4,0% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ ước đạt 148,8 nghìn tỷ đồng, tăng 0,5%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 88,4 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%.

Tính đến hết năm 2025, chi trả quyền lợi bảo hiểm ước đạt 91,8 nghìn tỷ đồng, tăng 13,5% so với năm 2024; tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế ước đạt gần 959,0 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%; tổng tài sản thị trường bảo hiểm ước đạt 1.113,6 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6%; tổng dự phòng nghiệp vụ bảo hiểm tăng 8,8%; tổng nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp bảo hiểm tăng 3,8%.

Trên thị trường cổ phiếu, tính đến ngày 31/12/2025, chỉ số VNIndex đạt 1.784,49 điểm, tăng 40,9% so với cuối năm 2024; mức vốn hóa thị trường cổ phiếu ước đạt 9.975,4 nghìn tỷ đồng, tăng 39,1%; giá trị giao dịch bình quân đạt 29.328,2 tỷ đồng/phiên, tăng 39,8% so với bình quân năm 2024. Tính đến cuối tháng 11, thị trường cổ phiếu có 721 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 878 mã cổ phiếu đăng ký giao dịch với tổng giá trị niêm yết, đăng ký giao dịch đạt 2.637 nghìn tỷ đồng, tăng 14,9% so với cuối năm 2024.

Trên thị trường trái phiếu, tính chung năm 2025, giá trị giao dịch bình quân đạt 15.300 tỷ đồng/phiên, tăng 26,1% so với bình quân năm 2024. Đến cuối tháng 11, thị trường trái phiếu có 473 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 2.623 nghìn tỷ đồng, tăng 13,6% so với bình quân năm 2024.

Trên thị trường chứng khoán phái sinh, tính chung năm 2025, khối lượng giao dịch bình quân đạt 243.418 hợp đồng/phiên, tăng 15,2% so với bình quân năm 2024.

Về hoạt động đầu tư, số lượng tài khoản của nhà đầu tư tính đến cuối tháng 11 đạt gần 11,6 triệu tài khoản, tăng 2.294,3 nghìn tài khoản so với cuối năm 2024.

Minh Anh