Xuất khẩu thuận lợi nhờ tiêu chuẩn rõ ràng

Ông Đỗ Thanh Hiệp, Giám đốc HTX Thanh long Hoà Lệ (Lâm Đồng) cho biết hơn 80% sản lượng thanh long của HTX hiện được xuất khẩu sang Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và thị trường châu Âu. Dù sản phẩm đạt tiêu chuẩn VietGAP và hữu cơ, việc tiêu thụ tại thị trường trong nước lại khá chậm so với xuất khẩu.

Tình trạng này không chỉ diễn ra với thanh long mà còn xuất hiện ở nhiều loại trái cây khác. HTX Thanh Bình (Đồng Nai) với mặt hàng chuối có tỷ lệ xuất khẩu lên tới 80-90%, trong khi HTX Sầu riêng Ngũ Hiệp (Đồng Tháp) cũng chủ yếu phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc và các nước châu Á.

Nhiều loại trái cây Việt Nam đạt tiêu chuẩn xuất khẩu nhưng vẫn gặp khó trong việc mở rộng thị phần tại thị trường nội địa.
Nhiều loại trái cây Việt Nam đạt tiêu chuẩn xuất khẩu nhưng vẫn gặp khó trong việc mở rộng thị phần tại thị trường nội địa.

Theo các HTX, điều đáng nói là nhiều sản phẩm khi đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường quốc tế lại chưa chắc được người tiêu dùng trong nước đón nhận tương xứng. Trong khi khách hàng nước ngoài mua hàng dựa trên hệ thống tiêu chuẩn rõ ràng như truy xuất nguồn gốc, độ đồng đều hay quy cách đóng gói, thì người tiêu dùng nội địa lại có cách lựa chọn khác.

Ông Chí Anh, Nhà sáng lập kiêm CEO Công ty TNHH XNK AGO (Lâm Đồng), cho rằng thị trường quốc tế ưu tiên sự ổn định về chất lượng hơn yếu tố giá rẻ. Một sản phẩm đạt chuẩn GlobalGAP hay hữu cơ nếu bảo đảm đồng đều giữa các lô hàng sẽ dễ ký hợp đồng dài hạn.

Điển hình như chuối của HTX Thanh Bình dù cạnh tranh với nhiều quốc gia xuất khẩu khác nhưng vẫn giữ được thị phần tại Nhật Bản và Hàn Quốc nhờ chất lượng ổn định, mẫu mã đồng đều và quy trình đóng gói chuyên nghiệp.

Tương tự, vú sữa của HTX Trinh Phú (Cần Thơ) có giá bán tại nhiều siêu thị nước ngoài lên tới 14-16 USD/kg nhờ đáp ứng đầy đủ quy trình sản xuất đạt chuẩn quốc tế.

Thị trường nội địa cạnh tranh bằng giá và cảm xúc tiêu dùng

Khác với thị trường xuất khẩu, thị trường trong nước lại có mức độ cạnh tranh rất lớn khi người tiêu dùng có quá nhiều lựa chọn từ hàng chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng thực phẩm sạch cho tới trái cây nhập khẩu và các kênh bán online.

Theo nhiều HTX, yếu tố giá vẫn là ưu tiên hàng đầu của không ít người tiêu dùng Việt Nam. Đây là nguyên nhân khiến các sản phẩm đạt chuẩn thường khó cạnh tranh do chi phí sản xuất cao kéo theo giá bán cao hơn mặt bằng chung.

Đơn cử như xoài cát Hòa Lộc của Đồng Tháp thường có giá dao động từ 50.000-70.000 đồng/kg, cao hơn nhiều loại xoài nhập khẩu từ Thái Lan hay Trung Quốc. Dù chất lượng được đánh giá cao, người tiêu dùng vẫn cân nhắc nhiều về mức giá trước khi quyết định mua.

Một nghịch lý khác nằm ở sự khác biệt trong khẩu vị tiêu dùng. Ông Đỗ Thanh Hiệp cho biết thanh long xuất khẩu sang nhiều nước được ưa chuộng vì ít ngọt, phù hợp với xu hướng ăn kiêng và chăm sóc sức khỏe. Tuy nhiên, thị hiếu này chưa thật sự phổ biến tại Việt Nam.

Trong khi đó, ông Lý Minh Hùng, Giám đốc HTX Thanh Bình, cho biết người tiêu dùng trong nước thường thích chuối chín đậm vì thơm và ngọt hơn, còn khách hàng nước ngoài lại chuộng chuối còn xanh nhẹ để bảo đảm độ tươi và giá trị dinh dưỡng.

Theo các chuyên gia ngành trái cây, phần lớn người tiêu dùng Việt Nam vẫn ưu tiên tiêu chí “ngon và rẻ” hơn là các chứng nhận về quy trình sản xuất hay tiêu chuẩn an toàn. Điều này khiến nhiều sản phẩm đạt chuẩn VietGAP hoặc GlobalGAP gặp khó trong việc mở rộng hệ thống tiêu thụ dù chất lượng không hề thua kém hàng ngoại nhập.

Ngoài yếu tố giá, việc xây dựng thương hiệu cũng là điểm yếu của nhiều HTX hiện nay. Nếu xuất khẩu chủ yếu cần đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật thì thị trường nội địa lại đòi hỏi sản phẩm phải tạo được cảm xúc tiêu dùng, hình ảnh thương hiệu và niềm tin lâu dài với khách hàng.

Theo ông Chí Anh, tiêu thụ trong nước thực chất khó hơn xuất khẩu ở khía cạnh cạnh tranh thương hiệu. Một sản phẩm dù đạt chuẩn quốc tế nhưng nếu bao bì chưa bắt mắt, truyền thông chưa hiệu quả hoặc chưa tạo được sự khác biệt thì rất khó thuyết phục người mua trong nước lựa chọn.

Các chuyên gia cho rằng để đứng vững tại thị trường nội địa, HTX và doanh nghiệp nông nghiệp không thể chỉ tập trung vào sản xuất mà cần đầu tư mạnh hơn cho truyền thông, hệ thống phân phối và chiến lược thương hiệu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, chất lượng mới chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ là khiến người tiêu dùng cảm thấy sản phẩm thực sự xứng đáng với số tiền bỏ ra.

Đây cũng là bài toán lớn mà nhiều HTX nông nghiệp Việt Nam đang phải tìm lời giải nếu muốn chinh phục chính thị trường trong nước – nơi được xem là “khó tính” theo một cách rất riêng.

Nam Sơn (t/h)