Tín hiệu tích cực bước đầu đã xuất hiện tại một số thị trường cụ thể. Tại Đức, ông Mario Berger, Giám đốc điều hành siêu thị Selgros Lichtenberg cho biết, đơn vị đang lên kế hoạch nhập khẩu gạo ST25 của Việt Nam, đồng thời cân nhắc mở rộng danh mục nông sản Việt trên kệ hàng. Trước đó, hệ thống này đã phân phối nhiều sản phẩm quen thuộc như thủy sản, gia vị, đồ khô và một số loại trái cây tươi của Việt Nam. Đáng chú ý, trong tháng 2/2026, Selgros Lichtenberg phối hợp với Thương vụ Việt Nam tại Đức và Hiệp hội Rau quả Việt Nam tổ chức “Ngày hàng Việt Nam”, tạo cơ hội kết nối cho hơn 10 doanh nghiệp xuất khẩu nông sản.

Các nhà thu mua quốc tế quan tâm đến việc đưa rau quả Việt gia tăng hiện diện trên kệ hàng siêu thị ở châu Âu.
Các nhà thu mua quốc tế quan tâm đến việc đưa rau quả Việt gia tăng hiện diện trên kệ hàng siêu thị ở châu Âu.

Theo bà Đặng Thị Thanh Phương, Tham tán Thương mại Việt Nam tại Đức, xuất khẩu rau quả Việt Nam sang thị trường này năm 2025 đạt hơn 60 triệu USD, tăng gần 40% so với năm trước. Tuy nhiên, mức tăng trưởng này vẫn chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam cũng như nhu cầu nhập khẩu của Đức. Người tiêu dùng Đức hiện đã quen thuộc với cà phê, thủy sản, gia vị Việt Nam, song nhiều loại trái cây tươi vẫn chưa phổ biến rộng rãi.

Không chỉ riêng Đức, xét trên bình diện toàn EU, khoảng trống thị phần của nông sản Việt còn rất lớn. Năm 2025, EU nhập khẩu nông sản với tổng giá trị khoảng 264 tỷ USD, trong khi hàng nông sản Việt chỉ chiếm xấp xỉ 2%. Con số này phản ánh rõ sự chênh lệch giữa tiềm năng và thực tế hiện diện của nông sản Việt tại một thị trường “mỏ vàng” về tiêu dùng.

Trường hợp cá tra là ví dụ điển hình cho sự trồi sụt và phân hóa thị trường. Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), kim ngạch xuất khẩu cá tra sang EU năm 2025 đạt 175 triệu USD, giảm nhẹ so với năm trước. Trong khi các thị trường truyền thống như Đức, Hà Lan có xu hướng chững lại, thì một số quốc gia Nam và Tây Âu như Tây Ban Nha, Pháp, Italia lại ghi nhận mức tăng trưởng hai con số. Điều này cho thấy EU vẫn còn dư địa, nhưng đòi hỏi chiến lược tiếp cận linh hoạt theo từng thị trường thành viên.

Rào cản lớn nhất hiện nay vẫn là chi phí logistics cao do khoảng cách địa lý xa, khiến giá thành nông sản Việt kém cạnh tranh. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang EU chủ yếu vẫn là hàng thô hoặc sơ chế, trong khi thị trường này ngày càng ưu tiên sản phẩm chế biến sâu, hữu cơ, đáp ứng tiêu chuẩn bền vững và truy xuất nguồn gốc.

Để cải thiện thị phần, các chuyên gia cho rằng, cần đồng thời tháo gỡ điểm nghẽn logistics, đầu tư mạnh cho chế biến, và đẩy mạnh xúc tiến thương mại. Việc tận dụng hiệu quả các hiệp định EVFTA và UKVFTA là yếu tố then chốt, nhất là trong bối cảnh phần lớn dòng thuế rau quả đã được xóa bỏ hoặc giảm sâu. Khi nhu cầu tiêu thụ trái cây nhiệt đới tại châu Âu ngày càng tăng, nếu nâng cao chất lượng và gia tăng giá trị sản phẩm, nông sản Việt hoàn toàn có cơ hội nâng vị thế và từng bước mở rộng thị phần tại EU.

Nam Sơn (t/h)