
Còn bất cập trong kiểm soát khí N2O sau thông quan
Theo Bộ Tài chính, thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nói chung và khí N2O nói riêng được thực hiện theo Luật Hải quan năm 2014, Nghị định số 08/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung, cùng các quy định hướng dẫn của Bộ Tài chính. Đồng thời, cơ quan hải quan căn cứ pháp luật chuyên ngành để áp dụng chính sách quản lý và quyết định việc thông quan hàng hóa.
Trên thực tế, khí N2O được xuất khẩu, nhập khẩu phục vụ nhiều mục đích như sản xuất thực phẩm, y tế và công nghiệp. Vì vậy, việc áp dụng chính sách quản lý đối với mặt hàng này phụ thuộc vào mục đích sử dụng và các quy định pháp luật chuyên ngành tương ứng, trong đó có pháp luật về hóa chất và an toàn thực phẩm.
Tuy nhiên, quá trình quản lý khí N2O đang bộc lộ một số khó khăn, bất cập. Đáng chú ý là nguy cơ tổ chức, cá nhân lợi dụng việc nhập khẩu hợp pháp với mục đích sản xuất công nghiệp hoặc chế biến thực phẩm để đưa khí ra thị trường, sang chiết, phân phối trái phép phục vụ hoạt động giải trí bằng bóng cười, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và trật tự, an toàn xã hội.
Bên cạnh đó, việc kiểm soát dòng luân chuyển khí N2O sau thông quan còn gặp nhiều khó khăn. Thẩm quyền kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan chủ yếu giới hạn trong địa bàn hoạt động hải quan và quá trình làm thủ tục xuất nhập khẩu. Trong khi đó, việc kiểm tra, hậu kiểm hoạt động lưu trữ, phân phối và sử dụng tại nhà máy, kho hàng, cơ sở kinh doanh trong nội địa cần có sự phối hợp của các lực lượng Công an, Quản lý thị trường, Y tế, Công Thương và các cơ quan liên quan.
Một vấn đề khác là việc áp dụng chính sách quản lý chuyên ngành đối với khí N2O chưa thực sự rõ ràng trong một số trường hợp. Theo Bộ Tài chính, Nghị định số 26/2026/NĐ-CP quy định khí N2O thuộc nhóm hóa chất cần kiểm soát đặc biệt, hoạt động nhập khẩu phải có giấy phép. Tuy nhiên, việc xác định hàng hóa nhập khẩu theo mục đích cụ thể, chẳng hạn sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm, có phải đồng thời đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của pháp luật về hóa chất và pháp luật chuyên ngành tương ứng hay không vẫn đặt ra vấn đề cần được làm rõ để thống nhất thực hiện.

Tăng cường phối hợp, kiểm soát đúng mục đích sử dụng
Trước những khó khăn nêu trên, việc trao đổi, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan quản lý nhà nước được xác định là một trong những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát khí N2O.
Việc chia sẻ dữ liệu tạo cơ sở để cơ quan chức năng có thêm thông tin phục vụ công tác quản lý, đối chiếu hoạt động nhập khẩu với nhu cầu sử dụng thực tế, đồng thời hỗ trợ phát hiện những dấu hiệu bất thường để kịp thời kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền.
Cùng với quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, việc xác định rõ điều kiện sản xuất, kinh doanh và phân phối khí N2O cũng có ý nghĩa quan trọng.
Theo quy định tại Nghị định số 168/2025/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp và các văn bản sửa đổi, bổ sung, doanh nghiệp có trách nhiệm tự kê khai, bảo đảm tính hợp pháp, trung thực, chính xác của thông tin trong hồ sơ đăng ký. Cơ quan đăng ký kinh doanh chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ, không thay thế chức năng quản lý chuyên ngành đối với hoạt động kinh doanh có điều kiện.
Đáng lưu ý, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp không phải là giấy phép kinh doanh. Việc doanh nghiệp đăng ký ngành, nghề liên quan đến sản xuất, kinh doanh hoặc phân phối khí N2O chỉ ghi nhận ngành, nghề dự kiến hoạt động, không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp đương nhiên được phép triển khai hoặc đã đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định pháp luật.
Hoạt động sản xuất, kinh doanh, phân phối và sử dụng khí N2O phải tuân thủ các quy định chuyên ngành tương ứng; việc cấp phép, xác nhận và kiểm tra điều kiện thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước theo quy định pháp luật.
Các chuyên gia cho rằng, việc kiểm soát khí N2O cần được thực hiện đồng bộ từ khâu cấp phép, nhập khẩu đến lưu thông, phân phối và sử dụng cuối cùng. Cùng với việc rà soát, làm rõ các quy định còn vướng mắc, các cơ quan chức năng cần tăng cường trao đổi dữ liệu, phối hợp kiểm tra và hậu kiểm, kịp thời phát hiện, xử lý hành vi sử dụng sai mục đích hoặc kinh doanh trái phép.
Đây là yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm hoạt động xuất nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh khí N2O tuân thủ đúng quy định pháp luật, đồng thời ngăn chặn việc lợi dụng cơ chế quản lý để đưa mặt hàng này vào các hoạt động trái phép, gây ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng và an ninh, trật tự xã hội.
Nguyễn Kiên























