
Muốn rút ngắn khoảng cách ấy, điều quan trọng trước hết là nhận diện đúng chuỗi giá trị, tìm đúng những mắt xích còn thiếu và tổ chức được một hệ động lực đủ mạnh để tạo ra dòng hàng, dòng vốn, việc làm và giá trị gia tăng.
Hiểu đúng không gian trước khi tìm động lực
Ngày 29/4/2026, tại buổi làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tỉnh chuyển đổi tư duy, tái định vị không gian phát triển bằng chiến lược “vươn Đông, tỏa Tây”. Đây không chỉ là một định hướng về địa lý, mà sâu xa hơn là yêu cầu tổ chức lại không gian kinh tế của tỉnh trong mối liên kết giữa biển, đồng bằng, miền núi, biên giới và thị trường khu vực.
“Vươn Đông” là lấy hướng biển làm không gian mở rộng chủ đạo của nền kinh tế, phát huy lợi thế cảng biển, công nghiệp, năng lượng, đô thị ven biển, dịch vụ và logistics. Từ những cửa ngõ phía Đông, thông qua Hành lang kinh tế Đông - Tây và các trục kết nối xuyên Á, các phương thức vận tải cần được tích hợp để dòng hàng, dòng vốn và dịch vụ lan tỏa về phía Tây, đồng thời mở rộng sang Lào, Thái Lan, Myanmar và khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông.
Vì thế, “Đông” không đơn thuần là phần lãnh thổ giáp biển. Đó là không gian hướng biển gắn với hệ thống cảng Hòn La, Mỹ Thủy, Cửa Việt; với các khu kinh tế, khu công nghiệp, trung tâm năng lượng, logistics và chuỗi đô thị - dịch vụ ven biển. Giá trị của không gian này không chỉ nằm ở bản thân từng công trình, mà ở năng lực trở thành cửa ra biển cho cả tỉnh và vùng nội địa phía Tây.
Ở chiều ngược lại, “Tây” cũng không chỉ là khu vực miền núi. Đó là không gian biên giới gắn với các cửa khẩu quốc tế Cha Lo, Lao Bảo, La Lay; với kinh tế rừng, năng lượng tái tạo, du lịch sinh thái, thương mại cửa khẩu và hợp tác xuyên biên giới. “Tỏa Tây” phải được hiểu là đưa năng lực của kinh tế biển, công nghiệp và dịch vụ từ phía Đông kết nối với nguồn lực, thị trường và không gian hợp tác rộng lớn ở phía Tây.
Điều chỉnh Quy hoạch tỉnh xác định 3 hành lang kinh tế, 7 cực tăng trưởng và 2 phân vùng phát triển. Riêng Hành lang Đông - Tây xuyên Á gồm: Trục kinh tế Đông - Tây Cha Lo; trục Đông - Tây Lao Bảo gắn với Hành lang kinh tế Đông - Tây và trục La Lay - Mỹ Thủy. Cấu trúc này cho thấy Quảng Trị có nhiều cửa ra biển, nhiều cửa ngõ biên giới và nhiều khả năng kết nối, chứ không phụ thuộc vào một tuyến đường hay một cặp cảng - cửa khẩu duy nhất.
Như vậy, “vươn Đông, tỏa Tây” không thể được hiểu như phép cộng cơ học giữa một cảng biển với một cửa khẩu, càng không thể thu hẹp thành câu chuyện mở thêm một tuyến giao thông. Đó là bài toán tổ chức một không gian kinh tế nhiều cực, nhiều ngành, trong đó mỗi cực tăng trưởng có chức năng riêng nhưng phải bổ trợ cho nhau và cùng tham gia vào những chuỗi giá trị chung.

Không gian mới cần một hệ động lực
Xác định đúng không gian mới chỉ là bước đầu. Một hành lang hay một cực tăng trưởng dù đã xuất hiện trên quy hoạch cũng chưa tự tạo ra dòng hàng, dòng vốn, việc làm và nguồn thu. Quy hoạch chỉ mở ra khả năng; muốn biến khả năng thành sức tăng trưởng, phải có một hệ động lực vận hành đồng bộ.
Trước hết là động lực kết nối, bao gồm: Giao thông, cảng biển, cửa khẩu, logistics và hạ tầng số. Nhưng có đường chưa chắc đã có hàng; có cảng chưa chắc đã có tàu; có cửa khẩu chưa chắc đã hình thành được dòng thương mại ổn định. Kết nối chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với năng lực sản xuất, chế biến, thương mại và khả năng tiếp cận thị trường.
Bởi vậy, cùng với hạ tầng phải là động lực tạo hàng và tạo giá trị từ công nghiệp, năng lượng, nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, thương mại và dịch vụ. Nếu phía Đông chỉ làm nhiệm vụ trung chuyển, còn phía Tây chủ yếu cung cấp tài nguyên thô, giá trị giữ lại cho địa phương sẽ hạn chế. Mục tiêu cao hơn phải là hình thành các khâu chế biến, hậu cần, dịch vụ kỹ thuật, phân phối và thương mại ngay trong không gian của tỉnh.
Tiếp đến là động lực doanh nghiệp và thể chế. Doanh nghiệp đưa vốn, công nghệ, quản trị và thị trường vào sản xuất - kinh doanh; còn thể chế và chất lượng điều hành quyết định nguồn lực ấy có được huy động nhanh, được phân bổ đúng và vận hành hiệu quả hay không. Trong cạnh tranh thu hút đầu tư, một quy hoạch tốt cần đi cùng quỹ đất sạch, thủ tục thông suốt, hạ tầng dùng chung và sự đồng hành thực chất của chính quyền.
Một tầng động lực khác là nâng cao năng suất gồm: Nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Những yếu tố này không thay thế hạ tầng hay thị trường, nhưng giúp cùng một đơn vị tài nguyên, một đồng vốn hoặc một tuyến kết nối tạo ra giá trị cao hơn. Đây cũng là điều kiện để tỉnh Quảng Trị tránh phát triển theo chiều rộng, dựa quá nhiều vào khai thác tài nguyên và ưu đãi đất đai.
Quy hoạch hiện xác định bốn trụ cột phát triển gồm: Năng lượng, logistics, du lịch và nông nghiệp xanh; đồng thời coi khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kinh tế tuần hoàn là những động lực quan trọng. Không một trụ cột riêng lẻ nào đủ sức hiện thực hóa toàn bộ chiến lược. Điều cần thiết là thiết kế mối liên kết giữa các trụ cột và xác định nguồn lực nào phải được kích hoạt trước ở từng hành lang, từng cực tăng trưởng.

Nên bắt đầu từ chuỗi giá trị
Nếu các hành lang và cực tăng trưởng là bộ khung của không gian phát triển, thì chuỗi giá trị chính là dòng vận động bên trong bộ khung ấy. Một bộ khung dù lớn đến đâu cũng khó tạo ra sức sống nếu bên trong không có doanh nghiệp, hàng hóa, dịch vụ, công nghệ và thị trường liên kết với nhau.
Bởi vậy, trước khi hỏi dự án nào cần ưu tiên, tỉnh Quảng Trị nên bắt đầu bằng một câu hỏi căn bản hơn: Trong từng không gian, tỉnh có thể tạo ra giá trị gì, cho thị trường nào và bằng lợi thế khác biệt nào?
Từ câu hỏi đó mới có thể nhận diện đúng sản phẩm, dịch vụ có lợi thế; xác định thị trường hướng tới; đo lường năng lực cạnh tranh; đồng thời chỉ ra những mắt xích còn thiếu hoặc đang yếu trong từng chuỗi. Với năng lượng, chuỗi giá trị không dừng ở phát điện mà còn gồm truyền tải, lưu trữ, công nghiệp thiết bị và dịch vụ kỹ thuật. Với nông nghiệp, lâm nghiệp, phải nối vùng nguyên liệu với chế biến sâu, tiêu chuẩn chất lượng, logistics, thương hiệu và thị trường. Với du lịch, cần kết nối di sản thiên nhiên, lịch sử, văn hóa, hòa bình, biển đảo và du lịch xuyên biên giới thành những sản phẩm đủ sức kéo dài thời gian lưu trú. Với thương mại biên giới, chuỗi giá trị phải gắn cảng biển, đường bộ, cửa khẩu, kho bãi, hải quan, thanh toán và nền tảng số trong một quy trình thông suốt.

Mỗi không gian có một điểm nghẽn khác nhau. Nơi có thế mạnh sản xuất nhưng khó tiếp cận thị trường sẽ cần nhóm động lực khác với nơi đã có hạ tầng kết nối nhưng chưa hình thành nguồn hàng tương xứng. Một cực tăng trưởng thiếu doanh nghiệp dẫn dắt cũng cần cách tiếp cận khác với nơi điểm nghẽn nằm ở vốn, nhân lực, công nghệ, mặt bằng hay thủ tục.
Cách tiếp cận theo chuỗi giá trị vì thế giúp chuyển câu hỏi từ “cần thêm dự án gì?” sang “đang thiếu mắt xích nào để một chuỗi kinh tế vận hành?”. Sự thay đổi cách hỏi này rất quan trọng, bởi nó hạn chế đầu tư dàn trải, khắc phục tình trạng công trình đứng riêng lẻ và tạo cơ sở để tập trung nguồn lực vào đúng khâu có khả năng lan tỏa.
Khi mắt xích được nhận diện, thứ tự ưu tiên cũng trở nên rõ hơn: hạ tầng nào phải đầu tư trước; lĩnh vực nào có khả năng thu hút doanh nghiệp dẫn dắt; logistics cần phục vụ dòng hàng nào; nhân lực và công nghệ phải tập trung vào công đoạn nào; cơ chế nào cần tháo gỡ để giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp.
Trong cấu trúc ấy, hạ tầng tạo khả năng kết nối; sản xuất và dịch vụ tạo ra giá trị; doanh nghiệp đưa vốn, công nghệ và thị trường vào hệ thống; thể chế bảo đảm môi trường vận hành; khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo nâng năng suất. Chỉ khi các yếu tố này gặp nhau trong một chuỗi hoàn chỉnh, lợi thế địa lý mới chuyển hóa thành lợi thế kinh tế.
Khi được tổ chức phù hợp, phía Đông sẽ phát huy tốt hơn lợi thế biển và năng lực kết nối thị trường quốc tế; phía Tây có thêm cơ hội khai thác lợi thế cửa khẩu, kinh tế biên giới, rừng, năng lượng và liên kết với thị trường lục địa. Quan trọng hơn, hai phía không phát triển tách rời mà bổ trợ cho nhau: phía Tây tạo nguồn lực, thị trường và không gian hợp tác; phía Đông cung cấp cửa ra biển, năng lực chế biến, dịch vụ và kết nối toàn cầu.
Tỉnh Quảng Trị đã có định hướng chiến lược và cấu trúc không gian đang được cụ thể hóa trong quy hoạch. Bước tiếp theo không nên chỉ được đo bằng số lượng dự án hay tổng vốn đăng ký, mà phải được đánh giá bằng khả năng các dự án, ngành kinh tế và nguồn lực liên kết thành những chuỗi giá trị có thể vận hành, cạnh tranh và tạo giá trị bền vững trên thực tế.
Vì vậy, nếu đặt câu hỏi “vươn Đông, tỏa Tây” nên bắt đầu từ đâu, câu trả lời có thể gói lại trong ba việc: Hiểu đúng không gian, xác lập đúng chuỗi giá trị và tổ chức phù hợp hệ động lực. Khi ba vấn đề ấy được làm rõ, tỉnh sẽ có cơ sở thuyết phục hơn để quyết định đầu tư cái gì, ở đâu, theo thứ tự nào và bằng nguồn lực nào. Khi đó, “vươn Đông, tỏa Tây” mới thực sự đi từ tư duy chiến lược đến năng lực phát triển của tỉnh Quảng Trị.
Đình Lương























