Sở hữu kỳ nghỉ không phải bất động sản

Trao đổi với phóng viên, Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) cho biết, pháp luật Việt Nam hiện chưa công nhận "sở hữu kỳ nghỉ" là một loại tài sản độc lập hay một chế định pháp lý riêng.

Theo ông Tuấn, về bản chất pháp lý, đây là giao dịch dân sự được xác lập thông qua hợp đồng giữa doanh nghiệp và khách hàng. Người mua thanh toán một khoản tiền để được hưởng quyền sử dụng dịch vụ lưu trú, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định theo các điều kiện đã thỏa thuận.

"Quyền mà khách hàng nhận được chủ yếu là quyền phát sinh từ hợp đồng chứ không phải quyền sở hữu đối với bất động sản nghỉ dưỡng", luật sư nhấn mạnh.

Người dân cần cảnh giác trước lời mời chào giao kết hợp đồng “Sở hữu kỳ nghỉ” - Ảnh minh họa
Người dân cần cảnh giác trước lời mời chào giao kết hợp đồng “Sở hữu kỳ nghỉ”.  Ảnh: minh họa

Điều này đồng nghĩa với việc người mua không đương nhiên có các quyền như sở hữu nhà ở hoặc quyền sử dụng đất. Mọi quyền lợi như chuyển nhượng, trao đổi kỳ nghỉ, chấm dứt hợp đồng hay yêu cầu hoàn tiền đều phụ thuộc vào nội dung hợp đồng và các quy định pháp luật liên quan.

Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, đây chính là điểm khiến nhiều người tiêu dùng nhầm lẫn. Không ít khách hàng cho rằng, mình đang sở hữu một loại tài sản có khả năng tăng giá, chuyển nhượng hoặc để thừa kế, trong khi đó, thực chất họ chỉ đang nắm giữ quyền sử dụng dịch vụ nghỉ dưỡng trong phạm vi và thời hạn nhất định.

Đáng chú ý, Việt Nam hiện cũng chưa có khung pháp lý chuyên biệt điều chỉnh mô hình sở hữu kỳ nghỉ. Các tranh chấp phát sinh chủ yếu được giải quyết trên cơ sở Bộ luật Dân sự 2015, Luật Du lịch 2017, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 cùng các quy định liên quan.

Theo vị luật sư, khoảng trống pháp lý này là một trong những nguyên nhân khiến nhiều tranh chấp kéo dài nhiều năm. Phần lớn hợp đồng sở hữu kỳ nghỉ do doanh nghiệp soạn thảo, có thời hạn kéo dài hàng chục năm với nhiều điều khoản phức tạp và hạn chế quyền của khách hàng.

Trong nhiều vụ việc, người tiêu dùng cho rằng, quyết định ký hợp đồng xuất phát từ những lời tư vấn, quảng bá của nhân viên bán hàng. Tuy nhiên, khi phát sinh tranh chấp, doanh nghiệp lại viện dẫn nội dung hợp đồng là căn cứ duy nhất để xác định quyền và nghĩa vụ các bên.

"Sự khác biệt giữa nội dung quảng bá và nội dung hợp đồng là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới tranh chấp", ông Tuấn nhận định.

Bên cạnh đó, người tiêu dùng thường gặp khó khăn trong việc chứng minh những nội dung đã được tư vấn bằng lời nói tại các buổi giới thiệu sản phẩm, hội thảo hoặc sự kiện bán hàng, trong khi đó, doanh nghiệp lại nắm giữ phần lớn tài liệu, dữ liệu liên quan đến giao dịch.

Doanh nghiệp nhận tiền thì phải chịu trách nhiệm

Một trong những vấn đề gây tranh cãi thời gian qua là việc một số doanh nghiệp cho rằng những thông tin tư vấn sai lệch xuất phát từ cá nhân nhân viên bán hàng và những người này đã bị cho nghỉ việc hoặc xử lý kỷ luật.

Tuy nhiên, theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, việc xử lý trách nhiệm nội bộ giữa doanh nghiệp và người lao động không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được miễn trừ trách nhiệm đối với khách hàng.

Lực lượng chức năng lấy lời khai của các đối tượng liên quan hoạt động mua bán, chuyển nhượng thẻ sở hữu kỳ nghỉ xảy ra tại 23 doanh nghiệp
Lực lượng chức năng lấy lời khai của các đối tượng liên quan hoạt động mua bán, chuyển nhượng thẻ sở hữu kỳ nghỉ xảy ra tại 23 doanh nghiệp

"Khách hàng không giao kết hợp đồng với nhân viên bán hàng mà giao kết với doanh nghiệp. Khoản tiền hàng trăm triệu đồng hoặc hàng tỷ đồng cũng không được thanh toán cho cá nhân nhân viên mà được chuyển cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp là chủ thể hưởng lợi từ giao dịch nên đồng thời cũng là chủ thể phải chịu trách nhiệm trước khách hàng", ông Tuấn phân tích.

Theo luật sư Nguyễn Văn Tuấn, pháp luật bảo vệ người tiêu dùng đặt ra nghĩa vụ cho doanh nghiệp phải cung cấp thông tin đầy đủ, trung thực và chính xác trước khi giao kết hợp đồng. Nếu nhân viên tư vấn đưa ra thông tin sai lệch trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, trước hết trách nhiệm đối với khách hàng vẫn thuộc về doanh nghiệp.

Sau đó, doanh nghiệp có thể xem xét trách nhiệm hoàn trả hoặc xử lý người lao động theo quy định nội bộ và pháp luật lao động. Nhưng đây là quan hệ pháp lý riêng giữa doanh nghiệp với nhân viên, không phải căn cứ để từ chối nghĩa vụ đối với người tiêu dùng.

Đặc biệt, luật sư cho rằng, nếu có hàng chục hoặc hàng trăm khách hàng trong nhiều năm liên tục phản ánh về cùng một nội dung tư vấn, cùng một phương thức giới thiệu sản phẩm hoặc cùng một dạng cam kết thì rất khó coi đó chỉ là hành vi tự phát của một vài cá nhân đơn lẻ.

"Trong hoạt động kinh doanh hiện đại, nhất là với các sản phẩm giá trị lớn như sở hữu kỳ nghỉ, quy trình bán hàng thường được xây dựng theo hệ thống với tài liệu đào tạo, kịch bản tư vấn và cơ chế quản lý cụ thể. Khi xuất hiện các phản ánh có tính lặp lại trong thời gian dài, cơ quan chức năng hoàn toàn có cơ sở xem xét liệu đây có phải là vấn đề mang tính hệ thống hay không", ông Tuấn cho biết.

Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)
Luật sư Nguyễn Văn Tuấn, Giám đốc Công ty Luật TNHH TGS (Đoàn Luật sư TP Hà Nội)

Theo vị luật sư, khi đánh giá trách nhiệm, cơ quan quản lý không chỉ căn cứ vào lời giải trình của doanh nghiệp mà còn xem xét các tài liệu nội bộ như quy trình đào tạo, tài liệu bán hàng, nội dung hội thảo, kịch bản tư vấn, chính sách kinh doanh cũng như mức độ nhận biết và kiểm soát của doanh nghiệp đối với hoạt động bán hàng.

"Nếu doanh nghiệp biết hoặc phải biết về phương thức tư vấn gây nhầm lẫn nhưng không ngăn chặn, thậm chí vẫn tiếp tục hưởng lợi từ các hợp đồng được ký kết trên cơ sở những thông tin đó thì trách nhiệm pháp lý không thể chỉ dừng lại ở cá nhân người tư vấn", ông Tuấn nhấn mạnh.

Theo các chuyên gia pháp lý, nguyên tắc cơ bản trong các giao dịch tiêu dùng là chủ thể nào ký hợp đồng, nhận tiền và hưởng lợi từ hợp đồng thì chủ thể đó phải chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ phát sinh. Việc nhân viên nghỉ việc có thể làm thay đổi quan hệ lao động bên trong doanh nghiệp, nhưng không làm thay đổi trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp đối với khách hàng.

Thiên Trường