Sự chuyển dịch từ thương mại điện tử thuần túy sang thương mại giải trí đã biến các nền tảng video ngắn và tính năng phát trực tiếp thành công cụ phát tán hàng giả trên diện rộng
Sự chuyển dịch từ thương mại điện tử thuần túy sang thương mại giải trí đã biến các nền tảng video ngắn và tính năng phát trực tiếp thành công cụ phát tán hàng giả trên diện rộng

Bối cảnh tăng trưởng này gắn liền với sự bùng nổ hạ tầng số khi toàn quốc ghi nhận hơn 59,4 triệu người dùng internet, chiếm 66% dân số, trong đó gần 45 triệu người đã tham gia mua sắm trực tuyến. Trên quy mô quốc tế, các nghiên cứu từ OECD và EUIPO chỉ ra rằng thương mại hàng giả và hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hiện chiếm từ 2,3% đến 3,3% tổng kim ngạch thương mại thế giới. Tuy nhiên, sự bứt tốc của thương mại số cũng tạo môi trường thuận lợi cho sự tiến hóa của chuỗi giá trị bất hợp pháp. Hàng giả đã dần thoát khỏi hình thái kinh doanh truyền thống để chuyển dịch sang một hệ sinh thái gian lận ngầm, phân tán, ẩn danh và mang tính công nghệ cao. Sự biến đổi này diễn ra toàn diện từ khâu tổ chức sản xuất, cấu trúc logistics, phương thức tiếp thị cho đến các chiến thuật đối phó với cơ quan quản lý nhà nước.

Tái cấu trúc chuỗi cung ứng từ sản xuất phân tán đến vũ khí hóa logistics

Hoạt động sản xuất hàng giả trong mô hình truyền thống thường đòi hỏi quy mô tập trung, song chính đặc điểm này lại tạo rủi ro bị triệt phá toàn bộ khi bị phát hiện. Trong kỷ nguyên thương mại số, các đường dây gian lận đã chuyển sang mô hình sản xuất phân tán và tháo rời công đoạn. Sản phẩm thô, hóa chất hoặc phôi hàng hóa chưa gắn nhãn hiệu được gia công tại nhiều cơ sở vệ tinh riêng biệt. Tem nhãn, bao bì và các yếu tố nhận diện thương hiệu được in ấn bí mật và chỉ thực hiện công đoạn dán, hoàn thiện sản phẩm ngay trước thời điểm đóng gói giao cho khách hàng. Phương thức này làm giảm thiểu nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo các định khung của Bộ luật Hình sự, do vật chứng thu giữ tại mỗi cơ sở riêng lẻ thường chỉ là hàng chưa gắn nhãn hoặc bao bì rời.

Đối với dòng hàng vi phạm xuyên biên giới, các đường dây gian lận khai thác mô hình kho phức hợp tích hợp giữa kho ngoại quan và trung tâm chia chọn bưu chính chuyển phát nhanh
Đối với dòng hàng vi phạm xuyên biên giới, các đường dây gian lận khai thác mô hình kho phức hợp tích hợp giữa kho ngoại quan và trung tâm chia chọn bưu chính chuyển phát nhanh

Song song với sự tháo rời khâu sản xuất là việc triệt để khai thác chiến lược hàng tồn kho phân tán. Nguồn hàng giả được xé nhỏ, cất giấu tại các căn hộ chung cư cao cấp, nhà riêng nằm sâu trong các ngõ hẻm hoặc các điểm tập kết ngụy trang, tạo rào cản pháp lý lớn cho lực lượng Quản lý thị trường trong việc xác minh địa điểm và xin lệnh khám xét chỗ ở hợp pháp.

Đối với dòng hàng vi phạm xuyên biên giới, các đường dây gian lận khai thác mô hình kho phức hợp tích hợp giữa kho ngoại quan và trung tâm chia chọn bưu chính chuyển phát nhanh. Hàng hóa lưu trữ tại kho ngoại quan trong trạng thái nghĩa vụ thuế chưa phát sinh. Ngay khi người tiêu dùng phát sinh đơn hàng trên các sàn thương mại điện tử như Shopee, Lazada hay TikTok Shop, hệ thống đồng bộ dữ liệu điện tử lập tức kích hoạt quy trình nhặt hàng, đóng gói và đẩy qua khu vực bưu chính. Nhờ cơ chế thông quan tự động đối với các bưu gửi giá trị nhỏ, hàng giả được làm thủ tục chỉ trong vài giây và nhanh chóng đưa vào mạng lưới giao hàng chặng cuối để phát tới tay người mua trong thời gian từ 12 đến 24 giờ.

Sự chuyển dịch cơ bản giữa hai mô hình vận hành được thể hiện rõ nét qua các tiêu chí cốt lõi. Về cấu trúc sản xuất, mô hình truyền thống tập trung quy mô lớn tại xưởng cố định và hoàn thiện tại chỗ; trong khi mô hình số phân tán, chia nhỏ công đoạn, tách rời khâu sản xuất phôi và in dán tem nhãn. Về địa điểm lưu kho, chuyển từ kho hàng thương mại, chợ đầu mối cố định sang các căn hộ chung cư, hẻm sâu, nhà riêng hoặc kho ngoại quan phức hợp xuyên biên giới. Về kênh tiếp thị và bán hàng, chuyển từ chào hàng trực tiếp tại đại lý, cửa hàng vật lý sang các hình thức livestream, video ngắn, KOC/KOL, link ẩn tiếp thị liên kết và hội nhóm kín. Về dòng vận chuyển, thay vì vận chuyển lô hàng lớn qua xe tải và đại lý trung gian, hàng hóa được chia nhỏ thành các bưu gửi cá nhân qua dịch vụ chuyển phát nhanh và thu hộ. Về nhận diện và xử lý, người mua truyền thống kiểm tra trực tiếp sản phẩm và chủ cửa hàng; còn môi trường số sử dụng danh tính ảo, cửa hàng ma, thông tin cá nhân bị đánh cắp và dễ dàng xóa gian hàng, gỡ dữ liệu số để phi tang chứng cứ khi bị kiểm tra.

Thao túng thuật toán số và công nghệ ngụy trang tinh vi trên không gian mạng

Sự chuyển dịch từ thương mại điện tử thuần túy sang thương mại giải trí đã biến các nền tảng video ngắn và tính năng phát trực tiếp thành công cụ phát tán hàng giả trên diện rộng. Các đối tượng tận dụng sức ảnh hưởng của những người sáng tạo nội dung để quảng bá sản phẩm gian lận dưới các khái niệm ngụy trang như hàng tuồn nhà máy, hàng xách tay hoặc sản phẩm bóc mẫu. Mô hình tiếp thị liên kết bị biến tướng thành lớp vỏ bọc che giấu nguồn cung khi người quảng bá chỉ gắn đường liên kết để nhận hoa hồng mà không hề lưu giữ kho hàng hay chịu trách nhiệm trực tiếp về chất lượng. Khi bán các sản phẩm vi phạm nghiêm trọng, người bán áp dụng thủ đoạn gắn link ẩn, mô tả sản phẩm dưới tên một mặt hàng hợp pháp khác hoặc điều hướng khách hàng về các hội nhóm kín trên Zalo, Telegram hay Facebook.

Để vượt qua hệ thống kiểm duyệt tự động, các đường dây áp dụng nhiều thủ đoạn can thiệp kỹ thuật tinh vi như sử dụng ngôn ngữ mã hóa, tiếng lóng, ký tự cố tình viết sai chính tả hoặc chèn biểu tượng vào tên các thương hiệu để lách thuật toán quét từ khóa. Bên cạnh đó, công nghệ Trí tuệ nhân tạo và Deepfake bị lạm dụng để sao chép bao bì, tạo hình ảnh sản phẩm mạo danh và giả mạo khuôn mặt, giọng nói của người nổi tiếng nhằm xây dựng niềm tin giả tạo.

Trên các sàn thương mại điện tử, gian lận số còn thể hiện qua việc vận hành các mạng lưới tài khoản ảo và phần mềm tự động để tạo hàng nghìn lượt đánh giá 5 sao và lượt mua giả mạo nhằm đẩy sản phẩm lên vị trí ưu tiên. Tinh vi hơn, nhiều đối tượng sử dụng phần mềm quản lý hai lớp để che giấu doanh thu thực, phát hành hóa đơn điện tử giả, đồng thời can thiệp vào dữ liệu vị trí GPS và cảm biến hành trình nhằm hợp thức hóa chứng từ vận chuyển xuyên biên giới.

Hoàn thiện thể chế quản lý và giải pháp công nghệ đối ứng trong tình hình mới

Thực tiễn đấu tranh chống gian lận thương mại cho thấy ranh giới giữa vi phạm trên không gian số và thị trường truyền thống đang ngày càng mờ nhạt. Dữ liệu xử lý vi phạm phản ánh quy mô đáng lo ngại khi lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra, xử lý hàng nghìn vụ vi phạm trên môi trường thương mại điện tử, xử phạt hàng chục tỷ đồng, buộc gỡ bỏ hàng chục nghìn sản phẩm và ngăn chặn hàng loạt gian hàng vi phạm.

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng hàng giả bùng phát trên không gian mạng xuất phát từ bốn nhóm hạn chế mang tính cấu trúc. Đầu tiên là khoảng trống pháp lý về trách nhiệm của nền tảng khi các mạng xã hội thuần túy không có chức năng đặt hàng trực tuyến khép kín vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát triệt để, các nền tảng thường tự nhận là bên trung gian thụ động để né tránh nghĩa vụ kiểm soát nội bộ. Thứ hai là tội phạm mạng liên quan đến dữ liệu cá nhân gia tăng, tạo điều kiện cho các đối tượng thiết lập danh tính ảo, qua mặt quy trình xác thực người dùng để mở hàng loạt gian hàng ma. Thứ ba là sự thiếu đồng bộ liên ngành và công nghệ giám sát của cơ quan chức năng còn tụt hậu so với tốc độ biến đổi của các nền tảng số. Thứ tư là sự hạn chế của cơ chế hậu kiểm truyền thống do đặc tính dễ bị xóa bỏ của chứng cứ kỹ thuật số, khi người bán chỉ cần gỡ sản phẩm hoặc xóa gian hàng trong vài giây là toàn bộ dữ liệu giao dịch bị xóa sạch.

Trực diện đối phó với thách thức gian lận thương mại số, Chính phủ đã phê duyệt Đề án chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong thương mại điện tử đến năm 2025 theo Quyết định số 319/QĐ-TTg. Quyết định này đặt ra lộ trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, siết chặt tiêu chuẩn chất lượng và gắn mã số mã vạch truy xuất nguồn gốc. Đề án hướng tới mục tiêu xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung tập trung, phục vụ công tác quản lý liên ngành giữa Quản lý thị trường, Hải quan, Công an và Thuế. Đồng thời, đề án quy định 100% các sàn thương mại điện tử lớn phải ký cam kết không kinh doanh hàng giả và chủ động loại bỏ các gian hàng vi phạm.

Bên cạnh cải cách thể chế, việc chuyển đổi phương thức giám sát sang ứng dụng công nghệ hiện đại được coi là yếu tố quyết định. Các cơ quan chức năng và doanh nghiệp đang đẩy mạnh tích hợp Trí tuệ nhân tạo để tự động quét, phân tích hình ảnh nhãn hiệu và phát hiện các bất thường về giá bán. Đối với công tác xác thực sản phẩm vật lý, các giải pháp mã QR động, tem chống giả điện tử tích hợp chip RFID và công nghệ NFC đang thay thế dần tem giấy truyền thống. Sự kết hợp giữa công nghệ IoT và chuỗi khối cho phép mã hóa toàn bộ lịch sử sản xuất, kiểm định và vận chuyển của từng đơn vị sản phẩm. Dữ liệu này được lưu trữ bất biến, giúp người tiêu dùng kiểm tra nguồn gốc bằng thiết bị di động và hỗ trợ lực lượng chức năng truy xuất chính xác mắt xích vi phạm.

Thương mại điện tử và mạng xã hội đã làm thay đổi căn bản hoạt động sản xuất và buôn bán hàng giả, chuyển hóa loại hình gian lận này thành một hệ sinh thái xâm phạm sở hữu trí tuệ có tổ chức, ẩn danh và ứng dụng công nghệ cao. Để duy trì sự lành mạnh cho nền kinh tế số, công tác quản lý nhà nước đòi hỏi sự chuyển dịch chiến lược từ ứng phó thụ động sang chủ động phòng ngừa dựa trên dữ liệu, hoàn thiện khung khổ pháp lý về trách nhiệm của các nền tảng số và áp dụng các công nghệ xác thực tiên tiến để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp chân chính cùng người tiêu dùng.

Tâm An