Mới đây, Cơ quan điều tra công bố thông tin về đường dây buôn bán 25 tấn mỹ phẩm, thực phẩm nghi giả tại Quảng Trị. Các đối tượng nhập hàng không rõ nguồn gốc, dán tem chống hàng giả và tiêu thụ qua Facebook, Shopee. Trước đó, vào tháng 5/2026, lực lượng chức năng phát hiện hơn 10.000 sản phẩm mỹ phẩm mang dấu hiệu xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của Medicube, Eucerin, L’Oréal được tiêu thụ qua các phiên livestream và sàn thương mại điện tử. Tại TP.HCM, hàng nghìn sản phẩm giả mạo các thương hiệu thời trang cao cấp như Gucci, Louis Vuitton, Dior, Rolex cũng bị thu giữ khi đang được chào bán qua mạng xã hội.

Một lượng lớn hàng hóa là mỹ phẩm giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ được lực lượng chức năng phát hiện, thu giữ.
Một lượng lớn hàng hóa là mỹ phẩm giả, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ được lực lượng chức năng phát hiện, thu giữ. Ảnh: Công an Quảng Trị

Các vụ việc này cho thấy hàng giả đang tiếp cận người tiêu dùng thông qua chính những kênh phân phối trực tuyến mà các thương hiệu thật sử dụng. Theo số liệu từ Bộ Công Thương, trong đợt cao điểm năm 2026, cơ quan này đã gỡ bỏ hơn 9.000 sản phẩm vi phạm trên các sàn thương mại điện tử và chặn hơn 2.000 gian hàng. 

Từ sự nhầm lẫn của người tiêu dùng đến thiệt hại doanh thu

Trên không gian mạng, người mua chủ yếu đánh giá sản phẩm qua hình ảnh, video và các lượt bình luận. Khi hàng giả sử dụng tên gọi, logo, kiểu dáng bao bì và thậm chí làm giả cả mã QR hay tem chống hàng giả, ranh giới giữa hàng thật và hàng vi phạm trở nên mờ nhạt. Người tiêu dùng thực hiện giao dịch với niềm tin rằng họ đang trả tiền cho một sản phẩm chính hãng.

Sự nhầm lẫn này tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Hàng giả thường được bán với giá thấp hơn do đối tượng sản xuất không phải gánh các chi phí nghiên cứu và phát triển, kiểm soát chất lượng, tuân thủ pháp luật và xây dựng mạng lưới phân phối. Khi hàng giả xuất hiện dày đặc và cùng chia sẻ một không gian tiếp cận khách hàng, doanh nghiệp mất đi các giao dịch đáng lẽ thuộc về mình.

Mạng lưới phân phối chính thức cũng chịu ảnh hưởng. Các đại lý và cửa hàng ủy quyền phải cạnh tranh với nguồn hàng vi phạm có giá rẻ hơn, dẫn đến nguy cơ xung đột lợi ích và làm rối loạn chính sách giá bán của thương hiệu. Tuy nhiên, để lượng hóa chính xác mức độ thiệt hại về doanh thu hay thị phần, doanh nghiệp cần căn cứ vào dữ liệu bán hàng thực tế, biến động của kênh phân phối trước và sau khi hàng giả xuất hiện, thay vì chỉ ước tính dựa trên tổng giá trị tang vật bị cơ quan chức năng thu giữ.

Công an Thành phố Hồ Chí Minh khởi tố các đối tượng và thu giữ hơn 23.000 đôi dép giả các nhãn hiệu Nike, Adidas, Crocs, Gucci... cùng số lượng lớn tem nhãn, bao bì và phụ kiện dùng để hoàn thiện sản phẩm. (Ảnh: Công an Thành phố Hồ Chí Minh)
Công an TP Hồ Chí Minh khởi tố các đối tượng và thu giữ hơn 23.000 đôi dép giả các nhãn hiệu Nike, Adidas, Crocs, Gucci... cùng số lượng lớn tem nhãn, bao bì và phụ kiện dùng để hoàn thiện sản phẩm vào tháng 6/2026. Ảnh: Công an TP Hồ Chí Minh

Tổn thất khó định lượng nhưng có tác động lâu dài hơn chính là sự suy giảm niềm tin đối với thương hiệu. Nếu người tiêu dùng mua nhầm hàng giả và có trải nghiệm chất lượng kém, họ thường quy kết trách nhiệm cho thương hiệu được in trên sản phẩm. Điều này dẫn đến các khiếu nại, phản ứng tiêu cực nhắm trực tiếp vào doanh nghiệp sản xuất hàng chính hãng. Ý định mua lại và mức độ trung thành của khách hàng sẽ giảm sút.

Đối với các nhóm ngành liên quan trực tiếp đến sức khỏe và an toàn, rủi ro uy tín càng lớn. Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng TP.HCM đã khuyến cáo người dân ưu tiên mua sắm tại các kênh phân phối chính thức, kiểm tra nguồn gốc và tem chống giả để tự bảo vệ mình. Nếu doanh nghiệp không có các biện pháp cảnh báo hoặc hướng dẫn kịp thời, hình ảnh uy tín và chất lượng của thương hiệu sẽ bị tổn hại. Báo cáo của Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tháng 6/2026 chỉ ra rằng, trong các vụ xử lý hành chính về sở hữu trí tuệ, vi phạm nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý chiếm tỷ trọng áp đảo với hơn 98%. Số liệu này cho thấy nhãn hiệu đang là mục tiêu chính của các đối tượng làm giả, đe dọa trực tiếp đến tài sản vô hình của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) - một tổ chức quốc tế gồm các quốc gia phát triển có nền kinh tế mạnh và Văn phòng Sở hữu Trí tuệ Liên minh châu Âu (EUIPO) công bố năm 2025 ước tính quy mô thương mại hàng giả, hàng sao chép toàn cầu đạt 467 tỷ USD, tương đương 2,3% tổng giá trị nhập khẩu toàn cầu. Mặc dù đây là dữ liệu mang tính quốc tế và không trực tiếp phản ánh thiệt hại của doanh nghiệp Việt Nam, nó cho thấy làm giả thương hiệu là một hoạt động có tính xuyên biên giới. Doanh nghiệp không chỉ phải đối phó với cơ sở sản xuất trái phép nội địa mà còn phải kiểm soát luồng hàng hóa vi phạm lưu thông qua các nền tảng thương mại điện tử quốc tế.

Gánh nặng nguồn lực trong quá trình xử lý vi phạm

Khi phát hiện thương hiệu bị xâm phạm, doanh nghiệp buộc phải tham gia vào một quy trình xác minh và xử lý phức tạp. Việc thực thi bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ đòi hỏi chủ thể quyền phải phân bổ thêm nguồn lực tài chính và nhân sự để làm việc với các cơ quan chức năng.

Trong vụ thu giữ 25 tấn mỹ phẩm tại Quảng Trị, cơ quan điều tra yêu cầu các doanh nghiệp cung cấp mẫu hàng thật, giấy xác nhận bảo hộ nhãn hiệu, hồ sơ nhập khẩu và hồ sơ công bố sản phẩm để làm cơ sở đối chứng. Đây là quy trình bắt buộc để chuyển đổi tài sản vô hình thành chứng cứ pháp lý cụ thể. Doanh nghiệp phải cử nhân sự theo dõi các nền tảng thương mại điện tử, mua mẫu sản phẩm nghi giả, thực hiện giám định và chuẩn bị tài liệu.

Khi hành vi vi phạm chuyển dịch mạnh lên môi trường trực tuyến, khối lượng công việc của doanh nghiệp càng tăng cao. Họ phải làm việc với nền tảng cung cấp dịch vụ để gửi yêu cầu gỡ bỏ đường dẫn vi phạm, khóa gian hàng và xử lý thông tin khi có người tiêu dùng khiếu nại. Để phòng ngừa, doanh nghiệp phải duy trì ngân sách cho việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, đồng thời đầu tư nâng cấp hệ thống tem điện tử và mã truy xuất nguồn gốc. Đặc biệt, đối với các sản phẩm có nguy cơ ảnh hưởng trực tiếp đến người sử dụng, doanh nghiệp còn chịu áp lực chứng minh nguồn gốc để loại trừ trách nhiệm nếu sản phẩm vi phạm gây ra rủi ro cho sức khỏe người tiêu dùng.

Hệ thống quy định pháp lý đang dần được thắt chặt. Luật Thương mại điện tử có hiệu lực từ tháng 7/2026 quy định rõ trách nhiệm của các nền tảng, sàn giao dịch và cá nhân tiếp thị liên kết trong việc kiểm soát hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc. Về mặt sở hữu trí tuệ, để kích hoạt các biện pháp hành chính hay dân sự, nghĩa vụ chứng minh thuộc về chủ thể quyền. Doanh nghiệp phải chuẩn bị sẵn sàng hệ thống dữ liệu chứng minh quyền sở hữu, đặc điểm nhận diện hàng thật và số liệu thiệt hại kinh tế nếu muốn tiến hành khởi kiện đòi bồi thường.

Đến tháng 5/2026, số liệu thống kê cho thấy lực lượng chức năng toàn quốc đã phát hiện hơn 2.000 vụ có dấu hiệu xâm phạm sở hữu trí tuệ, xử lý hành chính hơn 1.600 vụ và xử phạt gần 17,9 tỷ đồng. Số lượng vụ việc được xử lý phản ánh cường độ kiểm tra của cơ quan quản lý, đồng thời cũng cho thấy quy mô rủi ro mà các thương hiệu đang đối mặt.

Lực lượng chức năng kiểm tra hàng hóa tại cơ sở kinh doanh
Lực lượng chức năng kiểm tra hàng hóa tại cơ sở kinh doanh

Một thương hiệu bị làm giả sẽ kéo theo hệ lụy phức tạp: Nguy cơ sụt giảm doanh số, gián đoạn kênh phân phối, hao hụt niềm tin và phát sinh chi phí khắc phục. Thiết nghĩ, để bảo vệ thương hiệu, doanh nghiệp phải duy trì năng lực giám sát thị trường, chuẩn bị đầy đủ hồ sơ pháp lý và chủ động thiết lập cơ chế phối hợp với cơ quan thực thi để kiểm soát rủi ro sở hữu trí tuệ.

Thành Nam