Tại Hội thảo khoa học quốc gia “Đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới” diễn ra ngày 20/8, các chuyên gia cho rằng yêu cầu đặt ra hiện nay không còn đơn thuần là duy trì tốc độ tăng trưởng cao.
Thách thức lớn hơn là làm sao tạo ra một nền kinh tế có khả năng tăng trưởng nhanh nhưng đồng thời sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn, tạo giá trị gia tăng lớn hơn và có sức chống chịu tốt hơn trước những biến động bên ngoài.
PGS.TS. Bùi Đức Thọ, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, nhận định Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt quan trọng. Theo ông, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, không thể tiếp tục phụ thuộc chủ yếu vào tài nguyên, vốn và lao động giá rẻ.

Động lực cũ suy giảm, năng suất phải trở thành trụ cột
Nhìn lại chặng đường 40 năm phát triển, GS.TS. Ngô Thắng Lợi, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế Quốc dân, cho biết Việt Nam đã đạt những bước tiến lớn. Tăng trưởng GDP bình quân khoảng 6,4% mỗi năm, cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế thế giới.
Quy mô GDP từ khoảng 6,7 tỷ USD năm 1990 đã vượt 500 tỷ USD sau 40 năm, đưa Việt Nam từ vị trí thứ 85 lên khoảng thứ 35 thế giới.
Những con số này cho thấy hiệu quả của mô hình phát triển trong nhiều thập niên qua. Tuy nhiên, chính quá trình phát triển nhanh cũng làm xuất hiện những giới hạn mới.
Tăng trưởng có xu hướng chậm lại, trong khi các yếu tố truyền thống như vốn đầu tư, lao động và khai thác nguồn lực tự nhiên không còn tạo ra mức đóng góp như trước. Khu vực FDI vẫn giữ vai trò lớn trong nền kinh tế, nhưng khả năng lan tỏa công nghệ và kết nối với doanh nghiệp trong nước chưa tương xứng với kỳ vọng.
Trong khi đó, năng lực của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn cần được nâng lên để trở thành động lực mạnh hơn của nền kinh tế.
Theo các chuyên gia, đây là lúc Việt Nam cần chuyển từ tư duy “có thêm nguồn lực để tăng trưởng” sang “tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị nguồn lực”.
Điều đó đồng nghĩa năng suất phải trở thành một trụ cột của mô hình tăng trưởng mới. Khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chất lượng nguồn nhân lực không còn là những yếu tố bổ trợ mà phải trở thành nền tảng trực tiếp của năng lực cạnh tranh.
Mô hình phát triển mới cũng cần đồng thời hướng tới những mục tiêu rộng hơn như phát triển con người, bảo vệ môi trường, hội nhập quốc tế, xây dựng xã hội hiện đại và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
Từ “1i” sang “3i”, mở không gian tăng trưởng mới
Ở góc nhìn hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao, GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài, Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, cho rằng Việt Nam đang đứng trước bài toán mang tính quyết định.
Sau 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao. Nhưng nếu duy trì cách thức tăng trưởng hiện nay, mục tiêu thu nhập cao vào năm 2045 sẽ khó đạt được.
Nghiên cứu của nhóm chuyên gia Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho thấy, Việt Nam có thể tiến tới nhóm nước thu nhập cao trong khoảng 2045-2047 nếu thực hiện cải cách đủ mạnh và xử lý đúng các điểm nghẽn của nền kinh tế.
Một trong những điều kiện quan trọng là nâng tốc độ tăng trưởng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) từ mức khoảng 0,2% lên bình quân 2% mỗi năm.
Để đạt được điều này, trọng tâm không chỉ là tăng quy mô đầu tư mà phải thay đổi chất lượng đầu tư. GS.TS. Nguyễn Trọng Hoài đề xuất chuyển từ mô hình “1i”, chủ yếu dựa vàoInvestment (đầu tư), sang mô hình “3i”, gồm Investment - Infusion - Innovation, tức đầu tư, lan tỏa công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Cách tiếp cận này đặt doanh nghiệp trong nước vào vị trí trung tâm. Nguồn vốn FDI thế hệ mới cần được lựa chọn theo khả năng tạo ra chuyển giao công nghệ và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, thay vì chỉ dựa trên quy mô vốn hoặc số lượng dự án.
Khi doanh nghiệp trong nước nâng được năng lực công nghệ, quản trị và đổi mới sáng tạo, Việt Nam mới có thể tiến từ vị trí tham gia chuỗi giá trị lên những công đoạn tạo ra giá trị cao hơn.
Bên cạnh công nghiệp chế biến, chế tạo, các chuyên gia cũng cho rằng Việt Nam còn nhiều dư địa từ những không gian tăng trưởng mới. Xuất khẩu dịch vụ là một ví dụ. Tỷ trọng xuất khẩu dịch vụ của Việt Nam hiện khoảng 9,5%, thấp hơn đáng kể so với mức 26% của ASEAN và 39,2% của OECD.
Đây là khoảng trống có thể khai thác thông qua phát triển dịch vụ số, logistics, tài chính, giáo dục, du lịch và các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức cao.
Mô hình phát triển mới cũng cần tính đến những thay đổi về dân số và phân bố nguồn lực. Các ý tưởng như “di cư ngược”, tạo điều kiện để người lao động trở về nông thôn làm việc, hay phát triển “kinh tế bạc” khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số già từ năm 2036, cho thấy không gian tăng trưởng tương lai cần được nhìn rộng hơn các ngành sản xuất truyền thống.
Từ những phân tích tại hội thảo, có thể thấy bài toán của Việt Nam trong giai đoạn mới không phải lựa chọn giữa tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, mà là xây dựng một mô hình có khả năng đạt cả hai mục tiêu.
Muốn vậy, nền kinh tế phải nâng năng suất, tăng năng lực tự chủ, củng cố khu vực doanh nghiệp trong nước và biến khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo thành động lực thực chất.
Minh Thành (t/h)























