Xuất khẩu tăng, nguyên liệu nhập khẩu vẫn là điểm nghẽn

7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu khoảng 412.000 tấn hạt điều, thu về 2,9 tỷ USD. Dù lượng xuất khẩu giảm nhẹ so với cùng kỳ, kim ngạch vẫn tăng khoảng 3%, cho thấy giá trị bình quân của sản phẩm đang có xu hướng cải thiện.

Riêng tháng 7, các doanh nghiệp xuất khẩu khoảng 70.600 tấn điều, đạt giá trị hơn 504 triệu USD. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất với gần 100.000 tấn, tương đương khoảng 719 triệu USD. Mỹ đứng thứ hai với gần 91.000 tấn, trị giá khoảng 618 triệu USD.

Tại Mỹ, vị thế của điều Việt Nam thậm chí còn nổi bật hơn. Trong 5 tháng đầu năm, Việt Nam chiếm 89,1% lượng điều nhập khẩu của thị trường này, tăng đáng kể so với mức 85,8% cùng kỳ. Tại Anh, thị phần của Việt Nam cũng lên tới 82,2%. Nhu cầu tại thị trường này đang tăng đối với các sản phẩm điều không muối, ít chế biến, phục vụ nhóm thực phẩm thuần chay và đồ ăn nhẹ.

Doanh nghiệp chế biến điều đang chịu sức ép từ chi phí nguyên liệu tăng, trong khi nguồn cung điều thô trên thị trường quốc tế ngày càng cạnh tranh.
Doanh nghiệp chế biến điều đang chịu sức ép từ chi phí nguyên liệu tăng, trong khi nguồn cung điều thô trên thị trường quốc tế ngày càng cạnh tranh.

Tuy nhiên, phía sau những con số xuất khẩu là bài toán nguyên liệu ngày càng khó. Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam chi khoảng 3,2 tỷ USD để nhập khẩu điều thô, cao hơn kim ngạch xuất khẩu nhân điều. Như vậy, ngành điều đang rơi vào tình trạng nhập siêu nguyên liệu dù vẫn duy trì vị thế là trung tâm chế biến và xuất khẩu lớn trên thế giới.

Theo Cục Xuất nhập khẩu, chi phí nhập khẩu nguyên liệu tăng tới 48%, trong khi lượng nhập chỉ tăng khoảng 25%. Chênh lệch này khiến giá vốn tăng nhanh và trực tiếp thu hẹp biên lợi nhuận của doanh nghiệp.

Nguyên nhân sâu xa nằm ở sự mất cân đối giữa năng lực chế biến và nguồn nguyên liệu trong nước. Công suất chế biến điều của Việt Nam vượt 6 triệu tấn mỗi năm, trong khi sản lượng điều nội địa chỉ khoảng 300.000-400.000 tấn. Do đó, hơn 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, chủ yếu từ Campuchia và các quốc gia châu Phi.

Sự phụ thuộc này khiến doanh nghiệp dễ bị tác động khi nguồn cung thế giới biến động. Tại một số quốc gia Tây Phi, hoạt động chế biến trong nước đang được đẩy mạnh, kéo theo lượng điều thô dành cho xuất khẩu giảm. Một số nước còn áp dụng chính sách hạn chế xuất khẩu đầu vụ hoặc tăng thuế, phí nhằm giữ lại giá trị gia tăng trong nước.

Trong khi đó, việc thiếu thông tin minh bạch về cung cầu khiến thị trường nguyên liệu đôi lúc xuất hiện tình trạng tranh mua, đẩy giá lên cao ngay từ đầu vụ.

Chế biến sâu là chìa khóa thoát khỏi “bẫy” nguyên liệu

Không chỉ chịu sức ép về nguồn cung, doanh nghiệp điều Việt Nam còn phải thích ứng với hàng loạt tiêu chuẩn mới tại các thị trường lớn. EU và Mỹ ngày càng yêu cầu cao hơn về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ chứng minh tiêu chuẩn.

Những yêu cầu này đang trở thành phép thử đối với năng lực quản trị của doanh nghiệp. Với các thị trường mới, việc chưa nắm đầy đủ quy định nhập khẩu có thể khiến doanh nghiệp mất nhiều thời gian hoàn thiện hồ sơ, qua đó bỏ lỡ những thời điểm bán hàng thuận lợi.

Một nghịch lý khác là Việt Nam đang giữ vị trí rất lớn trong chuỗi cung ứng nhân điều toàn cầu nhưng thương hiệu Việt lại chưa tương xứng. Việt Nam cung ứng khoảng 80% lượng nhân điều xuất khẩu của thế giới, song nhiều sản phẩm sau khi ra khỏi Việt Nam tiếp tục được phân phối dưới thương hiệu nước ngoài với giá bán cao hơn nhiều lần.

Vì vậy, hướng đi dài hạn không thể chỉ là gia tăng khối lượng chế biến. Ngành điều cần chuyển trọng tâm sang chế biến sâu, phát triển sản phẩm cao cấp, xây dựng thương hiệu và khai thác tối đa giá trị từ toàn bộ cây điều.

Chênh lệch giá giữa các dòng sản phẩm cho thấy dư địa này còn rất lớn. Trong khi điều WW320 phổ biến có giá khoảng 7,2-7,5 USD/kg, dòng WW180 cao cấp có thể đạt gần 9,8 USD/kg. Nếu tăng tỷ trọng sản phẩm có giá trị cao, doanh nghiệp có thể cải thiện hiệu quả mà không nhất thiết phải mở rộng quá mạnh sản lượng.

Bên cạnh nhân điều, phụ phẩm cũng đang được xem là một nguồn giá trị chưa khai thác hết. Theo đề xuất từ giới chuyên gia, vỏ điều có thể được sử dụng để sản xuất dầu vỏ điều (CNSL), qua đó tạo thêm giá trị kinh tế cho nguyên liệu vốn thường bị xem là phụ phẩm.

Ở vùng nguyên liệu, các mô hình nông nghiệp sinh thái cũng mở ra hướng tăng thu nhập cho người trồng. Việc kết hợp cây điều với ca cao hoặc cà phê dưới tán được triển khai tại một số khu vực, giúp nâng thu nhập của nông dân lên khoảng 90-120 triệu đồng/ha.

Để giải quyết bài toán căn cơ, doanh nghiệp kiến nghị tập trung vào ổn định vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ chế biến sâu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng chất lượng nguồn nhân lực.

Trong bối cảnh ngành điều hướng tới mục tiêu xuất khẩu 5 tỷ USD trong năm 2026 và xa hơn là 10,5 tỷ USD, việc giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu có thể chưa thể thực hiện trong ngắn hạn. Tuy nhiên, nâng giá trị trên mỗi đơn vị sản phẩm, kiểm soát tốt hơn chuỗi cung ứng và khai thác phụ phẩm sẽ là cách để ngành điều giảm dần sự lệ thuộc vào “lượng” và chuyển sang cạnh tranh bằng “chất”.

Cùng với các chính sách hỗ trợ tín dụng cho nông nghiệp và đầu tư logistics, đây có thể là nền tảng để ngành điều duy trì vị thế xuất khẩu, đồng thời cải thiện biên lợi nhuận và xây dựng thương hiệu Việt Nam có giá trị cao hơn trên thị trường quốc tế.

Minh Thành (t/h)