Vướng thuế, chi phí xuất khẩu tăng thêm
Xuất khẩu hiện vận hành qua chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, từ nguyên liệu, sản xuất, giao nhận đến hoàn tất thủ tục. Vì vậy, một điểm chưa thống nhất trong chính sách thuế cũng có thể kéo theo thời gian xử lý và chi phí phát sinh.
Một trong những vấn đề được đặt ra là chính sách VAT đối với hàng hóa bán cho đối tác nước ngoài nhưng giao tại kho ngoại quan. Từ ngày 1/7/2025, Luật Thuế giá trị gia tăng số 48/2024/QH15 quy định hàng hóa bán vào khu phi thuế quan phải được tiêu dùng trong khu phi thuế quan và phục vụ hoạt động xuất khẩu mới đủ điều kiện áp dụng thuế suất VAT 0%.
Quy định này khiến việc xác định điều kiện hưởng thuế suất 0% trở thành vấn đề cần được làm rõ đối với một số hình thức giao nhận, trung chuyển hàng hóa. Khi hồ sơ phải giải trình hoặc chờ hướng dẫn, không chỉ thời gian xử lý kéo dài mà dòng tiền phục vụ sản xuất cũng có thể bị ảnh hưởng.

Cùng với VAT, chính sách đối với hàng nhập khẩu tại chỗ phục vụ sản xuất xuất khẩu cũng đang được rà soát. Cơ quan Hải quan đã ghi nhận kiến nghị nghiên cứu sửa đổi theo hướng sản phẩm nhập khẩu tại chỗ đăng ký theo loại hình nhập để sản xuất xuất khẩu được miễn thuế nhập khẩu nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Từ góc độ ngành dệt may, ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch thường trực kiêm Tổng Thư ký VITAS, cho rằng sự phối hợp giữa cơ quan Thuế và Hải quan cần được tăng cường để giảm chi phí tuân thủ, khơi thông nguồn lực và nâng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Theo ông Cẩm, một điểm cần lưu ý là sự khác biệt trong chính sách đối với nguyên liệu nhập khẩu và nguyên liệu mua trong nước phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Trong khi nguyên liệu nhập khẩu có cơ chế thuận lợi, nguyên liệu tương tự mua từ doanh nghiệp trong nước có thể phát sinh VAT và chi phí vốn, từ đó làm giảm sức hấp dẫn của nguồn cung nội địa.
Hoàn thuế nhanh để vốn quay lại sản xuất
Hoàn thuế VAT tiếp tục là một mắt xích quan trọng trong dòng tiền của doanh nghiệp xuất khẩu. Khi khoản VAT đầu vào chưa được hoàn, nguồn vốn này bị tạm thời giữ lại, trong khi doanh nghiệp vẫn phải chi cho nguyên liệu, nhân công, logistics và các đơn hàng mới.
Ông Cẩm cho rằng cơ chế hoàn thuế cần nhanh hơn, minh bạch hơn và dựa trên dữ liệu, mức độ tuân thủ để rút ngắn thời gian xử lý, sớm đưa vốn trở lại sản xuất.
Không chỉ ngành dệt may, những vấn đề tương tự cũng được phản ánh trong lĩnh vực thủy sản. Theo ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký VASEP, nhiều vướng mắc hiện nay không hẳn xuất phát từ việc thiếu quy định mà nằm ở cách hiểu khác nhau giữa các địa phương, các thời kỳ hoặc giữa các cơ quan.
VASEP đề nghị có cơ chế kế thừa kết quả thanh tra, kiểm tra, hạn chế kiểm tra lặp lại cùng nội dung, thời kỳ và hồ sơ nếu không xuất hiện chứng cứ mới. Khi cách hiểu chính sách thay đổi, cần xác định rõ thời điểm áp dụng và nguyên tắc chuyển tiếp.
Ông Nam cũng cho rằng cần có hướng dẫn liên ngành giữa Thuế, Hải quan và cơ quan chuyên ngành để thống nhất cách thực hiện; đồng thời xây dựng các tình huống chuẩn đối với những vấn đề thường phát sinh như hoàn VAT, phân biệt sơ chế - chế biến, hóa đơn xuất khẩu và hàng xuất khẩu bị trả về.
Trong 3 tháng cuối năm, mỗi khoản thuế chậm hoàn, mỗi lần giải trình bổ sung hay mỗi cách hiểu khác nhau đều có thể làm tăng chi phí cho hàng xuất khẩu. Vì vậy, bên cạnh mở rộng thị trường và đơn hàng, việc làm cho chính sách thuế vận hành thông suốt cũng là một cách trực tiếp hỗ trợ sức cạnh tranh của hàng Việt.
Nam Sơn (t/h)























