Nhập khẩu tăng mạnh, giá trị gia tăng trong nước chưa tương xứng
Theo số liệu mới nhất, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tính đến ngày 15/9/2026 đã vượt 825 tỷ USD, tăng 29,4% so với cùng kỳ năm trước. Riêng 15 ngày đầu tháng 9, tổng trị giá xuất nhập khẩu đạt gần 55 tỷ USD.
Trong đó, xuất khẩu đạt hơn 26 tỷ USD, còn nhập khẩu lên tới 28,84 tỷ USD, khiến cán cân thương mại nhập siêu thêm hơn 2,82 tỷ USD. Tính lũy kế, mức nhập siêu đã lên khoảng 23,5 tỷ USD.
Đáng chú ý, nhập siêu không chỉ xuất hiện trong một tháng riêng lẻ. Tháng 7, cán cân thương mại ghi nhận mức thâm hụt 20,52 tỷ USD; đến hết tháng 8, con số này là 20,46 tỷ USD. Trong tháng 8, xuất khẩu đạt 54,8 tỷ USD, tăng 3,2%, trong khi nhập khẩu đạt 54,9 tỷ USD, giảm 3,1% so với cùng kỳ.

Cơ cấu hàng hóa cho thấy khu vực sản xuất vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung từ bên ngoài. Trong 15 ngày đầu tháng 9, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện xuất khẩu đạt khoảng 9,6 tỷ USD, nhưng nhập khẩu lên tới 13,1 tỷ USD. Tính từ đầu năm, xuất khẩu nhóm hàng này đạt khoảng 111 tỷ USD, trong khi nhập khẩu gần 175 tỷ USD.
Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở nhóm máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng. Giá trị nhập khẩu đạt gần 51 tỷ USD, trong khi xuất khẩu khoảng 50,7 tỷ USD.
Ngoài ra, Việt Nam tiếp tục chi lượng ngoại tệ lớn để nhập khẩu các mặt hàng phục vụ sản xuất và tiêu dùng như vải, thép, than, dầu thô, xăng dầu. Trong đó, nhập khẩu vải khoảng 11 tỷ USD, thép 8,2 tỷ USD, than 6,7 tỷ USD, dầu thô 6,6 tỷ USD và xăng dầu khoảng 9 tỷ USD.
Những con số này cho thấy, kim ngạch thương mại tăng cao chưa đồng nghĩa với việc phần giá trị được tạo ra trong nước cũng tăng tương ứng. Khi sản xuất phụ thuộc lớn vào nguyên liệu, linh kiện và thiết bị nhập khẩu, mỗi đợt mở rộng xuất khẩu đồng thời có thể kéo theo nhu cầu nhập khẩu tăng mạnh.
Doanh nghiệp Việt chịu sức ép từ cả thị trường và chi phí
Ở chiều xuất khẩu, nhiều ngành hàng chủ lực đang phải đối mặt với sự suy yếu của nhu cầu quốc tế, giá bán thiếu ổn định và chi phí sản xuất ngày càng cao. Các lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản, dệt may, da giày và đồ gỗ đều chịu tác động từ sức mua chậm, yêu cầu tiêu chuẩn khắt khe hơn và áp lực cạnh tranh gia tăng.
Ngành thủy sản là một ví dụ. Trong tháng 8, xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 1,1 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chậm lại đáng kể so với mức tăng 11,9% trong 8 tháng đầu năm, với tổng kim ngạch khoảng 8 tỷ USD.
Tại thị trường Mỹ, xuất khẩu thủy sản tháng 8 giảm 3,8%, xuống còn 182 triệu USD. Riêng tôm giảm 12,6%, cá tra giảm tới 49,3%. Tính chung 8 tháng, xuất khẩu tôm giảm 11,7%, cá tra giảm 13,2%. Thị trường Mỹ chỉ tăng trưởng 1,5% trong 8 tháng, trong khi xuất khẩu sang EU tháng 8 giảm 6,2%.
Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp xuất khẩu không chỉ gặp khó ở khâu tìm kiếm đơn hàng mà còn phải đối mặt với bài toán duy trì biên lợi nhuận. Giá điện, nước, logistics, nhân công, lãi vay và chi phí tuân thủ cùng tăng khiến dư địa giảm giá để giữ khách hàng ngày càng thu hẹp.
Theo nhận định của chuyên gia, nhập siêu không nhất thiết là tín hiệu tiêu cực nếu phần lớn hàng nhập khẩu là máy móc, thiết bị, nguyên liệu và linh kiện phục vụ sản xuất, nhất là các ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu. Vấn đề quan trọng nằm ở khả năng chuyển hóa dòng nhập khẩu này thành năng lực sản xuất, công nghệ và giá trị gia tăng trong nước.
Đáng lo hơn là tốc độ mở rộng thương mại chưa đi cùng sự bứt phá tương xứng của doanh nghiệp nội địa. Nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn, phải chịu lãi suất cao, chi phí tuân thủ lớn và thiếu đơn hàng ổn định. Một bộ phận doanh nghiệp có xu hướng thu hẹp hoạt động hoặc rời khỏi thị trường.
Trong bối cảnh đó, việc thúc đẩy xuất nhập khẩu không thể chỉ tập trung vào tăng kim ngạch. Chính sách hỗ trợ cần hướng nhiều hơn đến giảm chi phí vốn, cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng, hỗ trợ tìm kiếm khách hàng và mở rộng thị trường. Đồng thời, cần nâng năng lực cung ứng trong nước để từng bước giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu và giữ lại nhiều hơn giá trị từ mỗi đơn hàng xuất khẩu.
Nam Sơn (t/h)























