Không gian biển cần được phân bổ theo giá trị phát triển

Tại phiên họp ngày 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi). Chính phủ đề xuất hoàn thiện các quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên, không gian biển, bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế biển theo hướng đồng bộ, minh bạch hơn.

Một trong những nội dung trọng tâm là cơ chế giao, cho thuê, đăng ký sử dụng, đấu giá quyền sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng khu vực biển. Những quy định này nhằm tạo cơ sở phân bổ không gian biển công khai, hạn chế chồng lấn và xử lý xung đột giữa các hoạt động khai thác.

Phát triển kinh tế biển cần gắn với lựa chọn ngành có giá trị gia tăng cao, bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng hiệu quả tài nguyên.
Phát triển kinh tế biển cần gắn với lựa chọn ngành có giá trị gia tăng cao, bảo vệ hệ sinh thái và sử dụng hiệu quả tài nguyên.

Đặt trong bối cảnh kinh tế biển ngày càng xuất hiện nhiều ngành, lĩnh vực mới, yêu cầu quản lý không còn dừng ở việc xác định ai được sử dụng khu vực biển nào. Vấn đề lớn hơn là phân bổ không gian cho những hoạt động phù hợp với quy hoạch, bảo đảm hiệu quả kinh tế, an toàn sinh thái và lợi ích lâu dài của cộng đồng ven biển.

Dự thảo cũng đề xuất chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, công nghệ biển và các ngành có tính dẫn dắt, lan tỏa. Đây là định hướng cho thấy phát triển kinh tế biển cần chuyển từ khai thác lợi thế tự nhiên sang nâng cao hàm lượng công nghệ, năng suất và giá trị gia tăng.

Tuy nhiên, nguồn lực biển không vô hạn. Nếu chính sách ưu đãi được triển khai dàn trải, thiếu tiêu chí lựa chọn và cơ chế giám sát, nguy cơ phân tán đầu tư, gia tăng xung đột không gian và tạo áp lực lên hệ sinh thái vẫn hiện hữu.

Chính sách phải đi cùng cơ chế điều phối và trách nhiệm

Thẩm tra dự án luật, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường đề nghị làm rõ cơ chế thực hiện từng chính sách, tiêu chí áp dụng ưu đãi, ngoại lệ và hạn chế quyền của tổ chức, cá nhân. Cơ quan thẩm tra cũng lưu ý yêu cầu rà soát để bảo đảm thống nhất với các quy định pháp luật liên quan.

Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn khi cùng một khu vực biển có thể liên quan đến nhiều mục tiêu: phát triển năng lượng, giao thông, nuôi trồng thủy sản, bảo tồn hệ sinh thái, quốc phòng và an ninh.

Nếu thiếu cơ chế điều phối liên ngành, việc cấp quyền sử dụng riêng lẻ có thể dẫn đến xung đột giữa các dự án, làm tăng chi phí đầu tư và kéo dài thời gian triển khai. Vì vậy, hoàn thiện luật cần gắn với trách nhiệm phối hợp, chia sẻ dữ liệu và giải quyết chồng lấn trong sử dụng không gian biển.

Đối với quyền chuyển nhượng, góp vốn, thế chấp quyền sử dụng khu vực biển, cơ quan thẩm tra và các đại biểu đề nghị tiếp tục làm rõ bản chất quyền tài sản, điều kiện giao dịch và cơ chế xử lý khi phát sinh nợ xấu. Những quy định này cần được thiết kế đồng bộ với quy hoạch, thời hạn sử dụng, nghĩa vụ tài chính và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia.

Bên cạnh đó, cơ chế thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thực hiện quy hoạch hoặc thu hồi vì quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng cũng cần rõ ràng, khả thi.

Kinh tế biển muốn phát triển bền vững không thể chỉ dựa vào việc mở rộng quyền khai thác. Điều quan trọng hơn là xây dựng một hệ thống quản trị đủ năng lực lựa chọn dự án, phân bổ không gian hợp lý, bảo vệ môi trường và bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Dự thảo Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) vì thế đang đứng trước yêu cầu kép: khơi thông nguồn lực đầu tư nhưng không đánh đổi tính bền vững; mở rộng cơ hội kinh doanh nhưng phải giữ vững nguyên tắc quản lý thống nhất không gian biển quốc gia.

Minh Thành (t/h)