Giá tăng chưa đủ bù lượng hàng giảm

Tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 142,37 nghìn tấn cao su, thu về 317,77 triệu USD. So với cùng kỳ năm trước, lượng xuất khẩu giảm 18,9%, nhưng kim ngạch lại tăng 5,3%. Đây là tháng thứ sáu liên tiếp lượng cao su xuất khẩu giảm so với cùng kỳ.

Tính chung 9 tháng, Việt Nam xuất khẩu 1,08 triệu tấn cao su, trị giá 2,19 tỷ USD, giảm 15,8% về lượng và 3,7% về trị giá. Trong khi đó, giá xuất khẩu bình quân đạt 2.022 USD/tấn, tăng 14,4%.

Riêng tháng 9, giá xuất khẩu bình quân lên 2.232 USD/tấn, tăng 29,8% so với cùng kỳ. Mức tăng giá tương đối mạnh giúp kim ngạch xuất khẩu không giảm tương ứng với sản lượng, nhưng chưa đủ kéo kết quả 9 tháng về mức tăng trưởng dương.

Diễn biến này cho thấy doanh nghiệp đang hưởng lợi từ mặt bằng giá cao hơn, nhưng đồng thời phải đối mặt với bài toán tiêu thụ. Khi sản lượng xuất khẩu giảm liên tục, khả năng duy trì doanh thu trong dài hạn sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào diễn biến giá thế giới.

Cao su Việt Nam đang chịu sức ép khi lượng xuất khẩu giảm, dù giá bán bình quân tăng.
Cao su Việt Nam đang chịu sức ép khi lượng xuất khẩu giảm, dù giá bán bình quân tăng.

Trung Quốc là yếu tố tác động rõ nhất. Trong 9 tháng, Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này 635,77 nghìn tấn cao su, trị giá 1,28 tỷ USD, giảm lần lượt 31,3% và 20,5% so với cùng kỳ. Riêng tháng 9, lượng xuất khẩu giảm 38,8%.

Nhu cầu nhập khẩu cao su tự nhiên và cao su tổng hợp của Trung Quốc trong 9 tháng cũng giảm 7,1%, xuống 5,683 triệu tấn. Sức mua thận trọng từ ngành sản xuất lốp xe, chi phí nguyên liệu cao và những bất ổn thương mại đang khiến thị trường này chưa tạo được lực kéo như trước.

Bài toán mới không chỉ là bán nhiều hơn

Trong khi lượng xuất khẩu giảm, một số thị trường lại đang cho thấy khả năng hấp thụ tốt hơn. Tháng 9, xuất khẩu cao su Việt Nam sang Ấn Độ tăng 97,1%, Indonesia tăng 60% và Malaysia tăng 35,4% so với cùng kỳ.

Hàn Quốc cũng là điểm sáng khi lượng cao su Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này trong 8 tháng đầu năm tăng 15,8%, lên 23,68 nghìn tấn; trị giá tăng 22,2%, đạt 51,93 triệu USD. Thị phần của Việt Nam tăng từ 6,35% lên 8,19%, đưa Việt Nam đứng thứ năm trong nhóm các nhà cung cấp lớn.

Đáng chú ý, nhập khẩu cao su hỗn hợp của Hàn Quốc tăng gần 299% về lượng. Diễn biến này cho thấy dư địa tăng trưởng không chỉ nằm ở việc tìm thêm khách hàng mà còn ở khả năng đáp ứng đúng cơ cấu sản phẩm mà từng thị trường cần.

Ở chiều nguồn cung, ngành cao su toàn cầu cũng đang có yếu tố hỗ trợ giá. ANRPC dự báo năm 2026 sản lượng cao su tự nhiên đạt khoảng 15,039 triệu tấn, thấp hơn nhu cầu dự kiến 15,356 triệu tấn, tương ứng thiếu hụt khoảng 317.000 tấn.

Sản lượng tại Indonesia, Malaysia và Việt Nam được dự báo đều giảm. Thời tiết bất lợi tại một số vùng sản xuất lớn của Thái Lan cũng làm gia tăng lo ngại về nguồn cung trong những tháng cuối năm.

Tuy nhiên, giá cao su vẫn chịu tác động từ sức mua thực tế. Quý IV là mùa khai thác cao điểm tại Đông Nam Á, trong khi nhu cầu của ngành lốp xe chưa phục hồi ổn định.

Vì vậy, với cao su Việt Nam, lợi thế giá cao hiện nay cần được tận dụng để tái cơ cấu đầu ra thay vì chỉ chờ đợi thị trường lớn phục hồi. Khi sản lượng xuất khẩu liên tục suy giảm, nâng tỷ trọng sản phẩm chế biến, đáp ứng tiêu chuẩn từng thị trường và xây dựng mạng lưới khách hàng đa dạng sẽ quan trọng không kém việc gia tăng sản lượng.

Minh Thành (t/h)