Ông Phạm Chí Quang, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN), cho biết đến ngày 24/12, tăng trưởng tín dụng đạt 17,87% so với cuối năm 2024, tăng trên 19% so với cùng kỳ năm trước. Đây là mức tăng trưởng tín dụng cao nhất trong vòng nhiều năm trở lại đây.

“Với tốc độ tăng trưởng tín dụng cao như vậy, hệ số tín dụng/GDP của Việt Nam dự kiến cuối năm nay đạt khoảng 146%. Đây là mức rất cao so với các quốc gia có thu nhập trung bình thấp. NHNN đã nhiều lần báo cáo các cấp có thẩm quyền về sự cần thiết phải phát triển các kênh huy động vốn khác để giảm bớt sự phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng”, ông Quang nhấn mạnh.

“Tốc độ tăng trưởng huy động vốn thời gian qua thường thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Đến ngày 24-12, tăng trưởng huy động vốn đạt 14,11% trong khi tăng trưởng tín dụng là 17,87%. Chênh lệch này tạo áp lực đáng kể lên thanh khoản của hệ thống”, ông Quang nói thêm.

PGS-TS Trần Đình Thiên, Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, nhận định nếu như những năm trước tín dụng chỉ tăng quanh mức 14-15% thì năm nay đã vọt lên xấp xỉ 20%. Tuy nhiên, câu hỏi cốt lõi không nằm ở lượng tiền bơm ra mà ở hiệu quả dẫn truyền. Doanh nghiệp vẫn khát vốn cho thấy tiền không chảy vào khu vực sản xuất kinh doanh hiệu quả.

Trong bối cảnh tỷ lệ tín dụng/GDP lên quanh ngưỡng 140%, TS Cấn Văn Lực cảnh báo rủi ro về chất lượng tín dụng đang gia tăng, tạo sức ép lớn lên ổn định vĩ mô.

Theo TS Lực, yêu cầu đặt ra là phải tái định hướng sự phối hợp giữa chính sách tiền tệ và tài khóa trong năm 2026. Mục tiêu nhằm bảo đảm dòng vốn phân bổ hiệu quả, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không đánh đổi bằng rủi ro trung và dài hạn.

“Dư địa điều hành chính sách tiền tệ ngày càng thu hẹp, thanh khoản hệ thống ngân hàng chịu áp lực, lãi suất nhích lên và rủi ro tỉ giá vẫn hiện hữu. Giá nhà đất neo cao tiếp tục tạo sức ép lên ổn định kinh tế vĩ mô, làm gia tăng khó khăn trong tiếp cận nhà ở của người dân”, ông Lực phân tích.

TS Cấn Văn Lực nêu quan điểm: “Để đạt mục tiêu tăng trưởng khoảng 10% trong năm 2026 và các năm tiếp theo, cần xác định chính sách tài khóa là trụ cột chủ lực, chính sách tiền tệ đóng vai trò hỗ trợ. Trọng tâm là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, giữ vững xuất khẩu truyền thống, đẩy mạnh xuất khẩu dịch vụ”.

Đi cùng định hướng này là yêu cầu triển khai đồng bộ các giải pháp mang tính cấu trúc như nâng hạng thị trường chứng khoán, vận hành Trung tâm tài chính quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng. Đồng thời cần thành lập thị trường carbon, xây dựng trung tâm giao dịch bất động sản và chú trọng bình ổn các thị trường then chốt như nhà đất, vàng.

Ở góc độ tài khóa, TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, Giảng viên Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, cho rằng để thúc đẩy tăng trưởng năm 2026, trụ cột quan trọng nhất phải là chính sách tài khóa. Dư địa cho công cụ này còn tương đối rộng khi nợ công hiện mới ở mức khoảng 36–37% GDP.

“Đây là không gian cho phép Nhà nước tiếp tục phát hành trái phiếu để huy động vốn. Vấn đề cốt lõi không nằm ở việc vay nợ mà ở hiệu quả sử dụng vốn. Nguồn vốn vay phải được sử dụng đúng mục tiêu, tập trung cho các dự án đầu tư hiệu quả, đặc biệt là hạ tầng trọng điểm”, ông Tuấn nói.

Song song với đầu tư, ông Tuấn nhấn mạnh vai trò của chính sách an sinh xã hội. Đây là mũi tên trúng hai đích: vừa đảm bảo công bằng xã hội, vừa kích thích tăng trưởng do người thu nhập thấp có xu hướng chi tiêu nhiều hơn khi được hỗ trợ.

Về phía điều hành tiền tệ, ông Phạm Chí Quang cho biết NHNN sẽ tiếp tục điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng. Chính sách tiền tệ sẽ ưu tiên ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và được điều chỉnh phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế.

Thiên Trường