
Câu chuyện ấy không chỉ là vấn đề kỹ thuật giao thông, đó là lời cảnh báo về tư duy phát triển: Công nghệ có thể là ngoại nhập, vốn đầu tư có thể lớn, quy mô có thể hoành tráng, nhưng nếu thiếu tiêu chuẩn thống nhất, thiếu quy chuẩn đồng bộ và thiếu kỷ luật hạch toán rõ ràng, thì sản phẩm cuối cùng vẫn không mang lại lợi ích tối ưu.
Khi Tổng Bí thư nhấn mạnh kinh tế nhà nước phải trở thành “điểm tựa quốc gia”, chiếm lĩnh các “cao điểm chiến lược chỉ huy” của nền kinh tế, điều cốt lõi không phải là phình to về quy mô, mà là mạnh lên về chất lượng quản trị, về năng lực dẫn dắt và về hiệu quả thực chứng.
Không có nền kinh tế hiện đại nào thiếu vai trò của nhà nước
Từ Adam Smith đến Keynes, kinh tế học đều thừa nhận có những lĩnh vực thị trường không thể tự mình giải quyết: hàng hóa công, an ninh quốc gia, điều tiết vĩ mô, hạ tầng nền tảng. Vì vậy, ở mọi quốc gia, kinh tế nhà nước ở mức tối thiểu vẫn phải hiện diện.
Nhưng “có” mới chỉ là điều kiện cần, điều kiện đủ là nhà nước phải tham gia đúng chỗ, đúng mức và đúng kỷ luật.
Không có một con số tuyệt đối cho quy mô kinh tế nhà nước. Ở Mỹ, chi tiêu công thường dao động khoảng 35–38% GDP; các nước Bắc Âu có thể lên tới 50–60%; Singapore duy trì mức khoảng 20%. Những tỷ lệ khác nhau ấy đều tồn tại trong các nền kinh tế phát triển và cạnh tranh cao. Điều quyết định không phải là bao nhiêu phần trăm GDP, mà là hiệu quả sử dụng nguồn lực, kỷ luật ngân sách, mức độ minh bạch và khả năng không lấn át khu vực tư nhân.
Chính vì vậy, khi ban hành Nghị quyết 79-NQ/TW, Bộ Chính trị không chỉ khẳng định vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, mà còn đặt lại chuẩn mực: vai trò chủ đạo không đo bằng tổng vốn hay số dự án, mà đo bằng sức dẫn dắt thị trường, bằng đóng góp thực chất cho các cân đối lớn, cho ổn định vĩ mô, an ninh kinh tế và tăng trưởng trung, dài hạn.
Nghị quyết yêu cầu cơ cấu lại mạnh mẽ, tập trung vào ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn trọng yếu; đồng thời chống “lợi ích nhóm”, “sân sau”, thao túng và trục lợi chính sách – những yếu tố làm méo mó phân bổ nguồn lực và xói mòn niềm tin xã hội.
Tổng Bí thư đặt câu hỏi rất cụ thể: Dự án lớn đầu tư hàng chục tỷ USD có vượt trội hơn các nước hay không? Bao lâu thu hồi vốn? Đóng góp bao nhiêu vào tăng trưởng? Nếu không trả lời được bằng số liệu, thì không thể nói đến hiệu quả.
Thực tế cho thấy, nhiều dự án của khu vực kinh tế nhà nước vẫn nặng về tiến độ giải ngân hơn là tính toán lợi ích – chi phí theo vòng đời dự án. Giải ngân nhanh là cần thiết để không lỡ nhịp phát triển, nhưng giải ngân chỉ là điều kiện cần. Đích đến phải là hiệu quả, dự án tạo ra giá trị gia tăng gì, năng suất tăng bao nhiêu, chi phí vòng đời có tối ưu không, rủi ro đã được tính đủ chưa, và cơ chế chịu trách nhiệm được thiết kế thế nào.
Khi hạch toán kinh tế không trở thành kỷ luật bắt buộc, đầu tư dễ dàn trải, chủ sở hữu cuối cùng là toàn dân, nhưng người điều hành là bộ máy được bổ nhiệm. Nếu thiếu minh bạch và trách nhiệm cá nhân, sẽ xuất hiện tình trạng “cha chung không ai khóc”, nơi quyết định đầu tư có thể lệch khỏi mục tiêu hiệu quả, nơi ràng buộc ngân sách mềm khiến thua lỗ không hẳn là điểm dừng, và nơi lợi ích nhóm có đất nảy sinh.
Lãng phí trong bối cảnh đó không chỉ là tiền, đó là thời gian bị bào mòn, cơ hội bị bỏ lỡ, năng lực cạnh tranh suy giảm và niềm tin xã hội bị xói mòn.
Trường hợp tuyến đường sắt đô thị Đường sắt đô thị Cát Linh – Hà Đông từng tăng tổng mức đầu tư từ khoảng 8.700 tỷ đồng lên khoảng 18.000 tỷ đồng cho thấy những lỗ hổng từ khâu dự báo, chuẩn hóa đến tổ chức thực hiện. Những con số ấy nhấn mạnh rằng vấn đề không chỉ nằm ở thi công, mà ở kỷ luật quản trị ngay từ điểm xuất phát.
Chuẩn hóa và kỹ trị – yêu cầu cấp bách
Ví dụ ba tuyến đường trên cao không kết nối được với nhau là một ẩn dụ rõ ràng: thiếu tiêu chuẩn chung thì hệ thống không thể vận hành tối ưu, điều này đúng với kinh tế nhà nước nói chung.
Không thể có “dự án đơn lẻ tốt” nếu thiếu chuẩn mực chung về tiêu chuẩn kỹ thuật, về hạch toán, về đánh giá hiệu quả và trách nhiệm giải trình. Chuẩn hóa không làm giảm vai trò của Nhà nước; ngược lại, nó làm cho vai trò ấy trở nên đo được và chịu trách nhiệm.
Kỹ trị ở đây là buộc hệ thống phải trả lời những câu hỏi bằng số liệu: tiêu chuẩn nào để kết nối, chỉ số nào để đo hiệu quả, mô hình tài chính nào để hoàn vốn, kịch bản nào nếu không đạt công suất thiết kế, và ai chịu trách nhiệm nếu sai. Khi mọi đồng vốn công đều phải “làm việc”, khi chi phí có trần kỷ luật và tiến độ gắn với chất lượng, chống lãng phí mới trở thành năng lực quản trị thực chất chứ không phải khẩu hiệu.

Theo Nghị quyết 79, đến năm 2030 phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1–3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất châu Á về tổng tài sản.
Đến năm 2045, mục tiêu nâng lên khoảng 60 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới. Toàn bộ doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
Điểm mới quan trọng là yêu cầu rà soát, thống kê, đánh giá và hạch toán đầy đủ các nguồn lực theo nguyên tắc thị trường; tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hóa, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với hoạt động sản xuất – kinh doanh.
Theo ý kiến nhiều chuyên gia, khi nhiệm vụ chính trị, công ích và hoạt động kinh doanh được tách bạch rõ ràng, hiệu quả doanh nghiệp sẽ được đánh giá chính xác hơn. Nhà nước giao nhiệm vụ thì phải bảo đảm nguồn lực tương ứng; không thể vừa giao nhiệm vụ vừa yêu cầu doanh nghiệp tự bù lỗ. Ngược lại, khi tham gia thị trường, doanh nghiệp phải tuân theo quy luật cạnh tranh, đo lường hiệu quả bằng năng suất và khả năng sinh lời trên vốn.
Vai trò chủ đạo phải được chứng minh bằng hiệu quả
Kinh tế nhà nước có vai trò chủ đạo trong các lĩnh vực chiến lược, dài hạn, rủi ro cao, nơi khu vực tư nhân chưa đủ nguồn lực hoặc chưa sẵn sàng đầu tư nhưng vai trò ấy phải được chứng minh bằng năng lực dẫn dắt, bằng hiệu quả thực tế và bằng đóng góp cụ thể cho ổn định vĩ mô, an ninh kinh tế và phát triển trung, dài hạn.
Lĩnh vực nào nhà nước cần nắm giữ thì phải nắm cho chắc, làm cho tinh, cho mạnh. Lĩnh vực nào chỉ cần vai trò dẫn dắt thì phải thiết kế cơ chế để khu vực tư nhân cùng tham gia và cạnh tranh. Lĩnh vực nào không cần thiết hoặc làm không hiệu quả thì phải sắp xếp lại theo nguyên tắc thị trường, minh bạch, chống lợi ích nhóm và trục lợi chính sách.
Tinh thần mà Tổng Bí thư nhấn mạnh không phải là mở rộng bằng mọi giá, mà là nâng cao chất lượng bằng kỷ luật. Khi nhìn thẳng vào sự thật và đặt câu hỏi đến cùng về hiệu quả, đó không phải là phủ nhận kinh tế nhà nước, mà là cách duy nhất để khu vực này trở nên thực chất: mạnh ở năng suất thực, lợi nhuận thực và giá trị gia tăng thực.
Giải ngân cần được thúc đẩy để không bỏ lỡ cơ hội phát triển, nhưng giải ngân chỉ có ý nghĩa khi đi kèm một kỷ luật không khoan nhượng với lãng phí. Và khi kinh tế nhà nước vận hành bằng tinh thần chuẩn hóa và kỹ trị ấy, nó mới thực sự trở thành “điểm tựa quốc gia” như kỳ vọng.
Thiên Trường























