Theo quy định mới, đối với hàng hóa, dịch vụ mua trả chậm hoặc trả góp có giá trị từ 5 triệu đồng trở lên, doanh nghiệp được căn cứ vào hợp đồng mua bán, hóa đơn giá trị gia tăng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt để thực hiện khấu trừ thuế đầu vào.

Trường hợp đến thời điểm kê khai nhưng chưa phát sinh hạn thanh toán theo hợp đồng hoặc phụ lục hợp đồng, doanh nghiệp vẫn được tạm khấu trừ thuế VAT đầu vào. Tuy nhiên, nếu đến thời hạn thanh toán mà không bổ sung được chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định, doanh nghiệp phải điều chỉnh giảm phần thuế đã khấu trừ tương ứng.

Nghị định mới sẽ có hiệu lực từ ngày 20/6/2026 và được đánh giá là bước điều chỉnh quan trọng nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng.
Nghị định mới sẽ có hiệu lực từ ngày 20/6/2026 và được đánh giá là bước điều chỉnh quan trọng nhằm tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp trong quá trình kê khai, khấu trừ thuế giá trị gia tăng.

Điểm mới đáng chú ý là sau khi đã điều chỉnh giảm, nếu doanh nghiệp bổ sung đầy đủ chứng từ thanh toán hợp lệ thì vẫn được kê khai bổ sung để khấu trừ lại phần thuế VAT đầu vào trước đó. Quy định này được kỳ vọng sẽ giúp giảm áp lực thủ tục và hạn chế tình trạng doanh nghiệp bị mất quyền khấu trừ chỉ vì chậm hoàn thiện hồ sơ thanh toán.

Ngoài nội dung liên quan đến chứng từ thanh toán, Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi quy định về nguyên tắc phân bổ thuế VAT đầu vào đối với hàng hóa, dịch vụ sử dụng đồng thời cho hoạt động chịu thuế và không chịu thuế.

Theo đó, doanh nghiệp phải thực hiện hạch toán riêng phần thuế đầu vào được khấu trừ và không được khấu trừ. Trong trường hợp không thể tách riêng, doanh nghiệp sẽ áp dụng phương pháp phân bổ theo tỷ lệ doanh thu chịu thuế trên tổng doanh thu phát sinh trong kỳ tính thuế.

Tổng doanh thu làm căn cứ phân bổ bao gồm doanh thu chịu thuế, doanh thu không chịu thuế và cả giá trị gia tăng từ hoạt động mua bán, chế tác vàng bạc, đá quý, ngoại trừ trường hợp giá trị gia tăng âm.

Đáng chú ý, nghị định mới cũng điều chỉnh cách xác định doanh thu đối với một số lĩnh vực đặc thù như ngân hàng, chứng khoán và bảo hiểm. Nếu trước đây doanh thu chủ yếu được tính dựa trên phần chênh lệch giữa giá bán và giá mua thì nay sẽ áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành tương ứng.

Cụ thể, doanh thu của tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xác định theo quy định pháp luật về các tổ chức tín dụng; doanh thu hoạt động chứng khoán được xác định theo pháp luật về chứng khoán; còn doanh thu bảo hiểm thực hiện theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm.

Song song với đó, Nghị định 144/2026/NĐ-CP cũng mở rộng thêm nhóm hàng hóa, dịch vụ thuộc diện không chịu thuế VAT. Nhiều loại hình bảo hiểm liên quan trực tiếp đến con người được bổ sung vào danh mục này như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sức khỏe, bảo hiểm học sinh, bảo hiểm nông nghiệp đối với cây trồng, vật nuôi và bảo hiểm phục vụ khai thác thủy sản.

Ngoài lĩnh vực bảo hiểm, hoạt động bán nợ cũng được đưa vào nhóm không chịu thuế giá trị gia tăng. Phạm vi áp dụng bao gồm các khoản phải thu, khoản phải trả và chứng chỉ tiền gửi, phù hợp hơn với bản chất của các giao dịch tài chính.

Đối với hàng hóa xuất khẩu là tài nguyên, khoáng sản, nghị định tiếp tục điều chỉnh theo hướng linh hoạt hơn. Các sản phẩm thuộc danh mục hạn chế hoặc không khuyến khích xuất khẩu sẽ thuộc diện không chịu thuế VAT theo danh mục do cơ quan quản lý đề xuất và Chính phủ quyết định từng thời kỳ.

Theo giới chuyên gia, những thay đổi trong Nghị định 144/2026/NĐ-CP cho thấy xu hướng hoàn thiện chính sách thuế theo hướng minh bạch, sát thực tế hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ thuế.

Nam Sơn