Từ tháo gỡ thủ tục đến thay đổi cách làm của doanh nghiệp
Với doanh nghiệp bất động sản và hạ tầng, Luật Phát triển Đô thị số 18/2026/QH16 có hiệu lực từ ngày 1/10 mở ra một khung pháp lý mới cho quá trình phát triển đô thị. Điểm đáng chú ý là định hướng tăng phân cấp, phân quyền cho địa phương trong chuẩn bị và triển khai dự án.
Thay vì chỉ nhìn dưới góc độ quy hoạch, những thay đổi này có ý nghĩa lớn đối với tiến độ dự án và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Các mô hình đô thị thông minh, đô thị xanh và phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) cũng được đưa vào khuôn khổ pháp lý.

Đặc biệt, cơ chế TOD mở ra khả năng khai thác giá trị gia tăng từ quỹ đất quanh các đầu mối giao thông để tái đầu tư hạ tầng. Cùng với hình thức hợp tác công - tư, đây được xem là một hướng huy động thêm nguồn lực ngoài ngân sách cho các dự án đô thị.
Ở lĩnh vực xuất nhập khẩu, thay đổi đáng chú ý lại đến từ yêu cầu doanh nghiệp phải chủ động hơn về năng lực thực tế. Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo yêu cầu thương nhân xuất khẩu phải có hoặc thuê kho chứa và cơ sở xay xát đáp ứng quy chuẩn.
Điều này khiến điều kiện tham gia thị trường không chỉ nằm ở giấy phép mà còn gắn với năng lực bảo quản, chế biến và tổ chức chuỗi cung ứng. Với những doanh nghiệp muốn mở rộng xuất khẩu, yêu cầu về hạ tầng vì vậy trở thành một phần quan trọng trong chiến lược kinh doanh.
Trong khi đó, Nghị định 336/2026/NĐ-CP về cơ chế một cửa quốc gia và một cửa ASEAN, có hiệu lực từ ngày 15/10, tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển thủ tục xuất nhập khẩu sang môi trường số.
Việc kết nối dữ liệu giữa các cơ quan, sử dụng chứng từ điện tử và áp dụng phương thức kiểm tra dựa trên rủi ro được kỳ vọng giảm số lần doanh nghiệp phải thực hiện các thủ tục lặp lại. Với những doanh nghiệp có tần suất xuất nhập khẩu lớn, hiệu quả của chính sách không chỉ nằm ở thời gian xử lý mà còn ở chi phí vận hành.
Quản trị vốn chặt hơn, hỗ trợ nông nghiệp mở rộng hơn
Một thay đổi đáng chú ý khác liên quan đến các tổ chức tín dụng có vốn nhà nước. Nghị định 316/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 1/10 điều chỉnh cơ chế phân phối lợi nhuận sau thuế, trong đó quy định giới hạn đối với việc trích lập các quỹ và đặt điều kiện chặt chẽ hơn đối với việc chia cổ tức bằng cổ phiếu.
Cách tiếp cận này đặt vấn đề bảo toàn và củng cố nguồn lực tài chính của tổ chức tín dụng bên cạnh mục tiêu phân phối lợi nhuận. Việc chia cổ tức bằng cổ phiếu phải gắn với kết quả xếp loại và yêu cầu kiểm soát nợ xấu, qua đó liên kết quyết định phân phối lợi nhuận với chất lượng hoạt động của ngân hàng.
Với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị định 342/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 18/10 cũng tạo ra một khung quản lý mới đối với hoạt động thương mại. Các lĩnh vực như phân phối bán lẻ, một số dịch vụ logistics, trung gian thương mại và một số hoạt động trên nền tảng số thuộc phạm vi quản lý cấp phép.
Đáng chú ý, việc đưa một số mô hình kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử và mạng xã hội vào phạm vi quản lý cho thấy chính sách đang được điều chỉnh để theo kịp sự thay đổi nhanh của phương thức kinh doanh xuyên biên giới.
Ở chiều ngược lại, khu vực nông nghiệp được bổ sung thêm dư địa tiếp cận chính sách hỗ trợ. Nghị định 346/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 20/10, nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm đối với một số nhóm đối tượng, đồng thời mở rộng các sản phẩm bảo hiểm theo chỉ số.
Cơ chế mới cho phép sử dụng dữ liệu về năng suất, thời tiết và viễn thám làm căn cứ xác định điều kiện bảo hiểm. Đây là điểm đáng chú ý trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp ngày càng chịu tác động lớn từ thời tiết và biến động môi trường.
Đối với Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Nghị định 325/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 5/10 thiết lập cơ chế tài chính đặc thù áp dụng từ năm tài chính 2026. Quy định mới tập trung vào cơ chế phối hợp trong toàn Tập đoàn và xử lý một số chi phí đặc thù liên quan đến thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản.
Nhìn từ góc độ doanh nghiệp, điểm chung của loạt chính sách có hiệu lực trong tháng 10 là vừa mở thêm không gian hoạt động, vừa nâng yêu cầu về năng lực và tuân thủ. Doanh nghiệp có thêm cơ hội từ phân cấp, số hóa thủ tục và các cơ chế hỗ trợ, nhưng đồng thời phải đáp ứng rõ hơn các yêu cầu về hạ tầng, tài chính, dữ liệu và quản trị.
Đây cũng là yếu tố khiến tác động của chính sách không đồng đều giữa các doanh nghiệp. Những đơn vị chủ động chuẩn hóa quy trình, đầu tư hạ tầng và nâng năng lực quản trị sẽ có điều kiện thích ứng nhanh hơn khi các quy định mới đi vào thực tế.
Minh Thành (t/h)























