
Bước chuyển này mở ra cơ hội đổi mới dạy và học, đồng thời đặt ra bài toán thiết thực: Sau những tiết học có AI, học sinh hiểu sâu hơn, biết tự học tốt hơn hay chỉ quen nhận câu trả lời nhanh hơn?
Không đánh đồng lớp học hiện đại với chất lượng học tập
AI đã xuất hiện trong công việc thường ngày của nhiều giáo viên: Gợi ý cấu trúc bài giảng, tạo câu hỏi ôn tập, thiết kế học liệu và hỗ trợ học sinh tìm hiểu kiến thức. Song một thiết bị thông minh hay bài trình chiếu bắt mắt chưa đủ chứng minh công nghệ đã nâng cao chất lượng giáo dục. Chuyển đổi số, hoạt động STEM và ứng dụng AI có liên hệ với nhau nhưng không thể xem là một.
Điểm mới của năm học 2026–2027 là giáo dục AI không chỉ dựa trên sáng kiến riêng lẻ. Theo Quyết định 2422/QĐ-BGDĐT ngày 18/8/2026 và Công văn 5588/BGDĐT-GDPT ngày 19/8/2026, nội dung này được triển khai đại trà trên phạm vi cả nước, với phần cốt lõi 12 tiết/lớp/năm học; phần mở rộng tùy điều kiện nhà trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép tổ chức chuyên đề, lồng ghép kiến thức AI vào môn học hoặc hoạt động giáo dục phù hợp. Điều đó không có nghĩa tất cả trường phải mở một môn học độc lập, càng không đồng nghĩa mỗi nơi phải mua một bộ thiết bị mới. Hướng dẫn yêu cầu tận dụng nguồn lực sẵn có, không gây quá tải và đặt khả năng tiếp cận của học sinh lên trước hình thức tổ chức.

Bài làm tốt chưa chắc học sinh đã hiểu bài
Một học sinh có thể dùng chatbot viết bài nghị luận hoặc giải bài toán trong vài giây. Sản phẩm có thể mạch lạc, trình bày đẹp, gây ấn tượng khi chỉ nhìn vào hình thức. Nhưng khi được yêu cầu giải thích từng bước hoặc bảo vệ quan điểm, em có thể lúng túng. Đây là khoảng cách giữa chất lượng sản phẩm và năng lực của chính người học.
Báo cáo OECD Digital Education Outlook 2026 tổng hợp những nghiên cứu cho thấy AI tạo sinh có thể giúp người học hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn nhưng không tự động đem lại tiến bộ về kiến thức và kỹ năng. Trong một số nghiên cứu, lợi thế khi thực hành với công cụ AI phổ thông không còn, thậm chí đảo chiều, khi học sinh làm bài kiểm tra không có công cụ hỗ trợ. Ngược lại, những cách sử dụng AI gắn với mục tiêu sư phạm rõ ràng có triển vọng cải thiện việc học bền vững hơn.
Vì vậy, giáo viên không nhất thiết cấm học sinh hỏi AI, mà cần thiết kế nhiệm vụ buộc các em suy nghĩ. Thay vì xin ngay lời giải, học sinh có thể yêu cầu gợi ý, tự làm trước, sau đó đối chiếu và chỉ ra vì sao một phương án đúng hoặc sai. Với Ngữ văn, AI có thể hỗ trợ khảo sát bối cảnh, gợi mở câu hỏi; cảm nhận và lập luận vẫn phải hình thành từ quá trình đọc, phân tích của học sinh.
Cách kiểm tra cũng phải thay đổi. Bên cạnh sản phẩm cuối cùng, cần xem người học hình thành câu hỏi ra sao, kiểm chứng nguồn nào và có tự trình bày lại cách làm khi không dùng AI hay không. Đánh giá một bài thuyết trình đẹp mà bỏ qua năng lực giải thích chẳng khác nào lấy thành tích của phần mềm làm thành tích của học sinh.

Giáo viên cần năng lực thẩm định, không chỉ kỹ năng dùng phần mềm
Sử dụng AI trong giảng dạy không khó bằng xác định khi nào nên dùng và khi nào phải dừng. Công cụ có thể tự tin đưa ra thông tin sai, gợi nguồn không tồn tại hoặc tạo học liệu không phù hợp với lứa tuổi. Nếu giáo viên thiếu bước thẩm định, sự tiện lợi có thể chuyển thành sai lệch kiến thức ngay trong lớp.
Khung năng lực AI dành cho giáo viên do UNESCO công bố năm 2024 xác định 15 năng lực thuộc năm nhóm, bao gồm: Tư duy lấy con người làm trung tâm, đạo đức AI, kiến thức công nghệ, phương pháp sư phạm và phát triển nghề nghiệp. Cách tiếp cận này nhấn mạnh rằng biết sử dụng nhiều công cụ chưa đồng nghĩa biết dạy học tốt với AI.
Việc bồi dưỡng nên đi vào bài toán chuyên môn cụ thể: Thiết kế câu hỏi khuyến khích tư duy, phát hiện lỗi của học liệu máy tạo ra, hướng dẫn học sinh kiểm chứng và xử lý tình huống liên quan đến dữ liệu cá nhân. Công văn 5588 cũng yêu cầu kết hợp thực hành có hướng dẫn, sinh hoạt chuyên môn và hỗ trợ sau tập huấn, thay vì chỉ tổ chức lớp giới thiệu công cụ.

Công bằng tiếp cận và dữ liệu học sinh là điều kiện bắt buộc
Ở những trường có đủ thiết bị và đường truyền, học sinh dễ tiếp cận công cụ mới. Nhưng với các em ở nơi thiếu kết nối, một yêu cầu học tập mặc nhiên đòi hỏi điện thoại cá nhân hoặc tài khoản trả phí có thể tạo thêm bất bình đẳng.
Công văn 5588 yêu cầu có phương án học tập thay thế cho học sinh thiếu thiết bị, kết nối; học liệu dùng chung cần có phiên bản ngoại tuyến hoặc in ấn. Đáng chú ý, hoạt động hợp tác với doanh nghiệp không được làm nhà trường phụ thuộc nhà cung cấp, cũng không được buộc học sinh, cha mẹ mua tài khoản, thiết bị hay dịch vụ để tham gia hoạt động giáo dục AI bắt buộc.
Đây vừa là nguyên tắc bảo đảm cơ hội học tập, vừa là thước đo cho việc sử dụng ngân sách và nguồn lực xã hội hóa. Mỗi quyết định chọn công cụ cần tính đến hiệu quả sư phạm, chi phí duy trì, khả năng thay thế và việc bảo vệ dữ liệu, thay vì chỉ chú ý tính năng trình diễn.
Từ ngày 1/1/2026, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân có hiệu lực; Luật Trí tuệ nhân tạo có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Trong môi trường trường học, việc đưa hình ảnh, thông tin định danh, hồ sơ học tập hoặc nội dung trao đổi của trẻ em lên nền tảng AI phải được rà soát theo quy định pháp luật. Nhà trường cần biết dữ liệu nào được sử dụng, ai có quyền truy cập, công cụ lưu giữ ra sao và xử lý sự cố bằng cơ chế nào.

Đổi cách đánh giá để không chạy theo những con số đẹp
Với chính sách triển khai trên phạm vi toàn quốc, số lớp đã học đủ 12 tiết, số máy tính được trang bị hay số giáo viên đã dự tập huấn là những thông tin cần thiết, nhưng chưa đủ để chứng minh kết quả. Cần có thêm bằng chứng về mức độ tiến bộ: Học sinh biết phản biện câu trả lời của AI đến đâu, có giải quyết được vấn đề tương tự khi không có công cụ hay không và giáo viên có thực sự cải thiện hoạt động giảng dạy?
Công văn 5588 đã giao nhà trường theo dõi minh chứng từ quá trình học, sản phẩm và phản hồi của học sinh, giáo viên; giao ngành giáo dục tổng hợp khó khăn và kết quả triển khai. Vấn đề tiếp theo là biến những yêu cầu ấy thành tiêu chí có thể kiểm tra, so sánh và cải tiến, để những mô hình thực sự hiệu quả được nhân rộng, còn cách làm hình thức được kịp thời điều chỉnh.
AI có thể là trợ lực lớn cho giáo dục nếu được sử dụng đúng chỗ. Song đích đến không phải lớp học có nhiều công cụ nhất mà lớp học nơi học sinh đặt được câu hỏi tốt hơn, tự kiểm chứng được lời giải và biết chịu trách nhiệm về tri thức mình sử dụng.
Hoàng Hữu Quyết - Đình Lương























