Kinh tế quý III tăng 9,95%, cao hơn mức 8,81% của quý II và 8,15% của quý I. Tính chung 9 tháng, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, dịch vụ tăng 8,69%, tiếp tục là những động lực chính của nền kinh tế.
Kết quả này tạo nền tảng tích cực cho mục tiêu tăng trưởng cao, nhưng đồng thời cũng thu hẹp khoảng thời gian để xử lý những điểm nghẽn còn tồn tại. Bởi tăng trưởng quý IV không chỉ phụ thuộc vào khả năng duy trì nhịp sản xuất, mà còn ở tốc độ hấp thụ vốn và đưa các nguồn lực đang nằm ngoài nền kinh tế vào hoạt động.
Khơi thông vốn, đất đai và các dự án đang mắc kẹt
Một trong những dư địa được kỳ vọng tạo thêm động lực cho tăng trưởng là các nguồn lực đã có nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Đất đai, tài sản công, hạ tầng, vốn, dữ liệu và nguồn nhân lực nếu được đưa vào sử dụng đúng thời điểm có thể tạo thêm năng lực sản xuất mà không cần chờ hình thành một chu kỳ đầu tư mới.

Đây cũng là tinh thần được đặt ra tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia, đầu tư công giai đoạn 2026-2030, gắn với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số.
Từ định hướng này, yêu cầu đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực mà quan trọng hơn là nâng hiệu quả phân bổ và sử dụng. Những dự án đã có vốn nhưng chậm triển khai, các tài sản công chưa khai thác, những vướng mắc về thủ tục hay pháp lý đều trở thành phần dư địa cần được xử lý nhanh.
Đầu tư công là một ví dụ rõ nét. Trong 9 tháng năm 2026, giải ngân đạt khoảng 643 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ. Phần vốn còn lại trong những tháng cuối năm cần được tập trung vào các công trình có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa, tăng kết nối, giảm chi phí logistics và mở rộng không gian phát triển.
Cùng với giao thông, hạ tầng số, năng lượng, trung tâm dữ liệu và các dự án công nghệ cao cũng cần được đẩy nhanh. Hiệu quả đầu tư công vì thế không chỉ được đo bằng số vốn giải ngân, mà còn ở khả năng kéo theo đầu tư tư nhân, mở rộng sản xuất và tạo năng lực tăng trưởng mới.
Quý IV: chuyển từ “khơi thông” sang “hấp thụ”
Áp lực lớn nhất hiện nay nằm ở khả năng hấp thụ nguồn lực. Trong 9 tháng, khoảng 223.900 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, cho thấy sức sống của khu vực kinh doanh. Tuy nhiên, khoảng 172.000 doanh nghiệp rút lui cũng phản ánh sức ép về chi phí, đơn hàng và khả năng tiếp cận nguồn vốn.
Vì vậy, cải cách thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh cần tạo tác động trực tiếp hơn tới hoạt động của doanh nghiệp. Việc Chính phủ ban hành các nghị quyết về cắt giảm, phân cấp và đơn giản hóa thủ tục, hướng tới giảm trên 50% thời gian, chi phí tuân thủ, nếu được thực thi hiệu quả sẽ giúp rút ngắn thời gian triển khai dự án và giảm chi phí kinh doanh.
Một dư địa đáng chú ý khác là hơn 1.000 dự án đã được xử lý khó khăn, vướng mắc. Việc tháo gỡ pháp lý mới chỉ là bước đầu; quan trọng tiếp theo là đưa các dự án này vào triển khai thực tế, tạo dòng vốn, việc làm và năng lực sản xuất.
Theo yêu cầu điều hành trong quý IV, giải ngân đầu tư công cần được đẩy mạnh, các nguồn vốn tại nơi giải ngân chậm có thể được điều chuyển sang dự án có khả năng hấp thụ tốt hơn. Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước cũng được yêu cầu phát huy vai trò dẫn dắt trong sản xuất, kinh doanh và đầu tư.
Trong khi đó, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được kỳ vọng tạo động lực dài hạn thông qua nâng năng suất thay vì chỉ mở rộng quy mô đầu vào.
Với GDP 9 tháng tăng 9,01%, bài toán của nền kinh tế trong chặng nước rút không còn đơn thuần là “có thêm nguồn lực”, mà là nguồn lực phải được đưa vào đúng chỗ, đúng thời điểm và tạo ra giá trị thực. Đây sẽ là phép thử quan trọng đối với khả năng thực thi chính sách trong quý IV, đồng thời quyết định mức độ bền vững của động lực tăng trưởng cho những năm tiếp theo.
Nam Sơn (t/h)























