Giá cao su trong nước: Thị trường ổn định.

Giá thu mua tại Công ty Cao su Mang Yang:

Đối với mủ nước:

Mủ nước loại 1 ở mức 463 đồng/TSC/kg

Mủ nước loại 2 ở mức 458 đồng/TSC/kg

Mủ đông tạp hôm nay:

Mủ đông tạp loại 1 ở mức 459 đồng/kg.

Mủ đông tạp loại 2 ở mức 404 đồng/kg.

Giá cao su hôm nay 6/9: Kết thúc tuần giao dịch SHFE và SGX phục hồi, TOCOM phân hoá
Thị trường trong nước ổn định (Ảnh: internet)

Công ty Cao su Bà Rịa:

Giá cao su mủ nước hôm nay:

Mức 1 có giá 452 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 30 trở lên.

Mức 2 có giá 447 đồng/độ TSC/kg áp dụng cho độ TSC từ 25 đến dưới 30.

Mức 3 có giá 442 đồng/độ TSC/kg, áp dụng cho độ TSC từ 20 đến dưới 25.

Giá mủ tạp hôm nay:

Mủ chén, mủ đông có độ DRC ≥ 50% ở mức 18.000 đồng/kg;

Mủ chén, mủ đông có độ DRC từ 45- 50% ở mức 16.700 đồng/kg;

Mủ đông có độ DRC từ 35- 45% ở mức 13.500 đồng/kg.

Công ty Cao su Phú Riềng hôm nay:

Giá mủ nước ở mức 420 đồng/TSC/kg.

Giá mủ tạp ở mức 390 đồng/DRC/kg.

Giá tại Công ty cao su Bình Long:

Giá thu mua mủ nước tại nhà máy: 540 đồngđộ/TSC/kg

Giá thu mua mủ nước tại đội sản xuất: 530 đồng/độ/TSC/kg

Mủ tạp có độ DRC = 60% có giá 18.000 đồng/kg.

Giá cao su trên thế giới hôm nay: 

Kết thúc tuần giao dịch thị trường cao su châu Á trải qua nhiều phiên biến động trái chiều. Sau nhịp suy yếu giữa tuần, giá tại SHFE và SGX bật tăng trong bản tin cuối kỳ, còn thị trường Nhật Bản tiếp tục phân hóa giữa các tháng giao hàng. Điều này cho thấy lực mua đã trở lại, song chưa đủ để khẳng định một đợt tăng đồng thuận trên cả ba sàn.

Giá cao su thế giới khép tuần phân hóa; SHFE và SGX phục hồi, trong khi các kỳ hạn xa tại Nhật Bản còn chịu sức ép
Giá cao su thế giới khép tuần phân hóa; SHFE và SGX phục hồi, trong khi các kỳ hạn xa tại Nhật Bản còn chịu sức ép (Ảnh: minh hoạ)

Tại Nhật Bản, thị trường thể hiện sự suy yếu rõ hơn ở các kỳ hạn xa. Ngoài hợp đồng tháng 1/2027 giảm 2,84%, kỳ hạn tháng 12/2026 cũng hạ từ 441,80 xuống 426,30 yen/kg, tương đương 3,51%. Trong khi đó, hợp đồng tháng 9/2026 giữ mức 458,80 yen/kg, chỉ thấp hơn khoảng 0,26% so với bản tin đầu kỳ. Sức chống chịu của kỳ hạn gần vì vậy chưa đại diện cho toàn bộ thị trường. Khoảng cách giá giữa tháng 9/2026 và tháng 1/2027 đạt 31,80 yen/kg ở cuối kỳ. Giá giao gần cao hơn giao xa có thể liên quan đến điều kiện hàng giao ngay và đặc điểm từng hợp đồng.

Tại Trung Quốc, nhịp hồi phục cuối kỳ giúp các hợp đồng nhích lên.Hợp đồng tháng 9/2026 đạt 18.000 nhân dân tệ/tấn, còn tháng 1/2027 đạt 18.875 nhân dân tệ/tấn. Dù vậy, cả hai vẫn thấp hơn mức tương ứng 18.070 và 18.965 nhân dân tệ/tấn. Giá tháng 1/2027 cao hơn tháng 9/2026 khoảng 875 nhân dân tệ/tấn .

Tại Singapore, TSR20 phục hồi khá rõ ở cuối kỳ. Hợp đồng tháng 10/2026 đạt 236,50 US cent/kg; tháng 12/2026 đạt 237,20 US cent/kg; tháng 1/2027 đạt 236,30 US cent/kg. So với bản tin đầu kỳ, hai kỳ hạn tháng 12 và tháng 1 tăng lần lượt khoảng 1,28% và 1,37%.

Tuy nhiên, giá kỳ hạn tăng chưa đủ chứng minh nhu cầu vật chất đã cải thiện tương ứng. Nhịp hồi có thể bao gồm cả hoạt động mua bù vị thế bán hoặc tái phân bổ danh mục.

Triển vọng những tuần tới tiếp tục chịu tác động trái chiều từ nguồn cung và nhu cầu. European Rubber Journal ngày 4/9 dẫn đánh giá của ANRPC cho biết rủi ro thời tiết liên quan đến El Niño có thể hỗ trợ giá. Ngược lại, nhu cầu tại Trung Quốc tương đối ổn định nhưng sản xuất, xuất khẩu lốp tăng hạn chế và doanh nghiệp vẫn thận trọng mua nguyên liệu.

Khả năng tăng bền vững sẽ rõ hơn nếu gián đoạn khai thác kéo dài, tồn kho giảm và các nhà máy lốp nâng mua hàng đồng thời. Ngược lại, nguồn cung phục hồi thuận lợi trong khi đơn hàng tiêu thụ tăng chậm có thể khiến nhịp hồi cuối tuần nhanh chóng gặp lực bán. Đối với trung hạn, thời tiết vẫn là yếu tố hỗ trợ đáng chú ý, nhưng nhu cầu thực tế mới quyết định thị trường có giữ được mặt bằng giá cao hay không.

Lê Thanh