Hàng Việt trước sức ép mới

Hơn 15 năm trước, khi Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” được triển khai, thị trường trong nước còn chịu sức ép lớn từ hàng nhập khẩu, trong khi tâm lý sính ngoại vẫn khá phổ biến, không ít doanh nghiệp Việt khi đó còn hạn chế về công nghệ, quản trị, mẫu mã và năng lực xây dựng thương hiệu.

Sau hơn một thập kỷ rưỡi, thị trường đã thay đổi đáng kể. Hàng Việt hiện diện ngày càng rộng trong các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi và trên các nền tảng thương mại điện tử.

Theo Bộ Công Thương, hàng Việt hiện chiếm khoảng 85-90% tại các hệ thống phân phối hiện đại. Tại nhiều hệ thống bán lẻ lớn, tỷ lệ hàng hóa sản xuất trong nước còn ở mức rất cao: Co.opmart, Wicommerce, BRG Retail khoảng 90%; Lotte 80%; Go! 90%; AEON 80% và MegaMarket 95%; ở các kênh truyền thống như chợ, cửa hàng tiện lợi, hàng Việt chiếm khoảng 60-97%.

Không chỉ giữ được thị phần, doanh nghiệp bán lẻ Việt cũng mở rộng nhanh chóng. Saigon Co.op hiện có hơn 800 điểm bán, WinCommerce hơn 4.000 cửa hàng, Bách Hóa Xanh vận hành hơn 2.180 điểm bán tại các tỉnh phía Nam và Nam Trung Bộ, còn BRG Retail sở hữu khoảng 100 siêu thị và cửa hàng tiện lợi.

Thị phần hàng Việt tại các kênh phân phối hiện đại hiện giữ vững ở mức trên 85%
Thị phần hàng Việt tại các kênh phân phối hiện đại hiện giữ vững ở mức trên 85%

Những con số đó cho thấy, hàng Việt đã có một vị trí khá vững chắc trên thị trường nội địa. Quan trọng hơn, cuộc vận động không chỉ tác động đến người tiêu dùng mà còn tạo sức ép tích cực buộc doanh nghiệp trong nước phải đổi mới công nghệ, cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng và hoàn thiện hệ thống phân phối.

Thói quen tiêu dùng cũng thay đổi theo quá trình ấy. Nếu trước đây xuất xứ là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn sản phẩm, thì hiện nay người tiêu dùng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng, giá thành, mẫu mã, dịch vụ hậu mãi và trải nghiệm sử dụng.

Chị Trần Thu Hương, ở phường Hà Đông, Hà Nội, cho biết khi lựa chọn xe máy điện do doanh nghiệp Việt Nam sản xuất, điều khiến chị quyết định mua không phải đơn thuần vì đây là hàng trong nước mà sản phẩm đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng, chi phí vận hành hợp lý và hệ thống bảo hành thuận tiện mới là những yếu tố thuyết phục chị. Theo chị Hương, nếu chất lượng không bảo đảm thì rất khó để người tiêu dùng tiếp tục gắn bó, dù sản phẩm được sản xuất ở đâu.

Sự thay đổi ấy chính là dấu hiệu quan trọng cho thấy Cuộc vận động đang bước sang một giai đoạn mới, từ chỗ khuyến khích người dân ưu tiên sử dụng hàng sản xuất trong nước, yêu cầu hiện nay đã cao hơn đó là hàng Việt phải được người tiêu dùng lựa chọn bởi chính chất lượng và giá trị của sản phẩm. Điều này càng có ý nghĩa khi sức mua trong nước đang tăng trưởng mạnh.

Tại Hà Nội, 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 516,9 nghìn tỷ đồng, tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; riêng doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 333,9 nghìn tỷ đồng, tăng 15%. Trên cả nước, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng cùng thời gian ước đạt gần 3.888 nghìn tỷ đồng, tăng 12,89%.

Một thị trường có quy mô lớn và sức mua tăng trưởng tốt rõ ràng là điểm tựa quan trọng cho doanh nghiệp Việt nhưng cũng chính thị trường ấy đang trở thành nơi cạnh tranh ngày càng quyết liệt.

Sự hiện diện của hàng ngoại là một thực tế không thể bỏ qua.

Từ ngày 16 đến 29/7, hệ thống GO!, Mini go! và Tops Market trên toàn quốc tổ chức “Tuần lễ sản phẩm Thái Lan 2026”, giới thiệu hàng nghìn mặt hàng chính hãng từ thực phẩm, đồ uống, bánh kẹo, hóa mỹ phẩm đến sản phẩm gia dụng. Hoạt động quảng bá không chỉ diễn ra tại điểm bán mà còn kết hợp trải nghiệm ẩm thực, livestream và truyền thông trên các nền tảng số.

Những chương trình như vậy không phải hiện tượng riêng lẻ, nhiều năm qua, các tuần lễ hàng Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, châu Âu hay Australia liên tục được tổ chức tại các hệ thống bán lẻ hiện đại.

Điều đó phản ánh sức hấp dẫn ngày càng lớn của thị trường Việt Nam đối với doanh nghiệp nước ngoài. Hàng hóa trong nước và hàng nhập khẩu đang cùng xuất hiện trên một quầy hàng, cùng tiếp cận một người mua và cùng phải trả lời một câu hỏi, sản phẩm nào đáng để lựa chọn? Trong hoàn cảnh ấy, lợi thế “sân nhà” không còn là sự bảo đảm cho doanh nghiệp Việt.

Muốn giữ sân nhà, doanh nghiệp phải chinh phục người tiêu dùng

Nếu tại các hệ thống phân phối hiện đại, hàng Việt vẫn chiếm tỷ lệ áp đảo, thì trên môi trường thương mại điện tử, bức tranh lại có những dấu hiệu đáng suy nghĩ.

Theo ông Vũ Dũng, Chủ tịch hệ sinh thái Salepro, tỷ lệ hàng hóa mang thương hiệu Việt trong các sản phẩm được tìm mua trên các sàn thương mại điện tử lớn chỉ khoảng 20-30%. Điều này phản ánh sức ép cạnh tranh ngày càng lớn đối với doanh nghiệp nội địa khi bán lẻ trực tuyến và mô hình hợp kênh phát triển mạnh.

Hàng Việt hiện chiếm 80-95% tại nhiều hệ thống bán lẻ, cho thấy vị thế ngày càng được củng cố trên thị trường nội địa.
Hàng Việt hiện có mặt tại nhiều hệ thống bán lẻ, cho thấy vị thế ngày càng được củng cố trên thị trường nội địa.

Thương mại điện tử đã làm thay đổi căn bản cách người tiêu dùng tiếp cận hàng hóa. Người mua không còn bị giới hạn bởi khoảng cách địa lý hay phạm vi của một cửa hàng, chỉ với chiếc điện thoại, họ có thể so sánh giá, mẫu mã, chất lượng và đánh giá của nhiều sản phẩm khác nhau. Trong cuộc cạnh tranh ấy, hàng Việt không thể trông chờ vào tâm lý ưu tiên hàng nội.

Ông Kiều Tiến Anh, Giám đốc vận hành sàn Thương mại điện tử F2C Hi1 Thuần Việt, cho rằng doanh nghiệp Việt đang chịu đồng thời nhiều sức ép. Hội nhập sâu rộng tạo thêm cơ hội xuất khẩu nhưng cũng mở cửa cho hàng hóa nước ngoài vào thị trường trong nước. Những thay đổi về chính sách, thuế, quản lý hộ kinh doanh và phòng, chống hàng giả tạo yêu cầu chuẩn hóa hoạt động. Trong khi đó, chuyển đổi số trở thành yêu cầu bắt buộc khi doanh nghiệp lớn có lợi thế về công nghệ và khả năng mở rộng chuỗi.

Theo ông Phạm Thành Hưng, Trưởng phòng Marketing, Công ty CP FDCG Holding, sự mở rộng của các chuỗi bán lẻ lớn là xu thế tất yếu, nhưng cũng khiến kênh phân phối truyền thống và doanh nghiệp nhỏ, vừa bị thu hẹp không gian phát triển. Để đưa sản phẩm vào hệ thống phân phối hiện đại, doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu khắt khe về chất lượng, sản lượng ổn định, giá cả và mức chiết khấu. Với nhiều doanh nghiệp nhỏ, đây là những rào cản không dễ vượt qua.

Họ còn phải đối mặt với chi phí logistics cao, hạ tầng thương mại chưa đồng bộ, chi phí thuê mặt bằng lớn và sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao. Trên môi trường số, tình trạng thiếu minh bạch về nguồn gốc hàng hóa, gian lận xuất xứ, kho hàng “ảo” và tài khoản ẩn danh cũng làm gia tăng rủi ro cho cả người tiêu dùng lẫn doanh nghiệp làm ăn chân chính. Nhưng nếu chỉ nhìn những khó khăn ấy từ phía thị trường thì chưa đủ. Bản thân doanh nghiệp Việt vẫn còn những điểm yếu cần khắc phục. Chất lượng sản phẩm ở một số nơi chưa đồng đều; thiết kế, bao bì chưa thực sự bắt mắt; hoạt động truyền thông và xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư đúng mức. Nhiều doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh còn khó tiếp cận vốn, công nghệ và các tiêu chuẩn cần thiết để đưa hàng vào hệ thống phân phối hiện đại.

Trong một thị trường mở, Nhà nước có thể tạo hành lang chính sách, hỗ trợ kết nối cung cầu, xây dựng điểm bán hàng Việt, đào tạo doanh nghiệp và tăng cường quản lý thị trường nhưng Nhà nước không thể quyết định thay người tiêu dùng sản phẩm nào sẽ được mua.

Năm 2026, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 88/NQ-CP về thúc đẩy phát triển thị trường trong nước, kích cầu tiêu dùng và đẩy mạnh Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Việc đặt cuộc vận động trong tổng thể chính sách phát triển thị trường nội địa cho thấy vai trò của thị trường trong nước ngày càng được coi trọng.

Các điểm bán “Tự hào hàng Việt Nam”, “Tinh hoa hàng Việt Nam”, những hội nghị kết nối cung cầu và hoạt động đưa hàng Việt lên môi trường số cũng đang mở thêm cơ hội cho doanh nghiệp. Giai đoạn 2021-2025, Đề án đã góp phần duy trì thị phần hàng Việt trên 85% tại kênh phân phối hiện đại, hơn 90% người tiêu dùng biết đến chương trình nhận diện hàng Việt và trên 70% doanh nghiệp tham gia phong trào “Hàng Việt Nam chinh phục người Việt Nam”.

Nhưng những con số ấy sẽ chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành sức cạnh tranh lâu dài. Bởi vậy, bài toán của hàng Việt hiện nay không phải là làm thế nào để người tiêu dùng “ưu tiên” thêm một lần nữa, mà là làm thế nào để họ có lý do thực sự để quay lại mua sản phẩm Việt.

Lý do ấy có thể bắt đầu từ chất lượng ổn định, giá bán hợp lý, mẫu mã tốt hơn, nguồn gốc minh bạch, dịch vụ hậu mãi chuyên nghiệp. Xa hơn là khả năng đổi mới công nghệ, tối ưu chi phí, phát triển hệ thống phân phối đa kênh, xây dựng thương hiệu và thích ứng với những yêu cầu mới về sản phẩm xanh, phát triển bền vững.

Một sản phẩm đủ sức cạnh tranh với hàng ngoại ngay tại Việt Nam sẽ có thêm cơ hội bước ra thị trường quốc tế. Một thương hiệu tạo được niềm tin với người tiêu dùng trong nước sẽ có nền tảng tốt hơn khi tìm kiếm khách hàng ở bên ngoài.

Sau hơn 15 năm, Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” đã tạo ra một chuyển biến quan trọng, hàng Việt từ chỗ cần được vận động để người dân quan tâm đã trở thành một lực lượng chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống phân phối.

Khi người tiêu dùng chọn một sản phẩm Việt không phải vì cảm giác “nên ủng hộ”, mà vì họ thực sự thấy sản phẩm ấy xứng đáng với số tiền bỏ ra, khi đó hàng Việt mới có được chỗ đứng bền vững nhất trên sân nhà. Và cũng từ chính sân nhà ấy, doanh nghiệp Việt mới có thể tự tin bước ra cuộc cạnh tranh rộng lớn hơn.

Thiên Trường