Đây là thay đổi quan trọng được thể hiện trong Nghị định số 387/2026/NĐ-CP, khi phương thức quản lý được chuyển dần từ kiểm soát theo từng chương trình sang quản lý theo mục tiêu, ngành, lĩnh vực và kết quả đầu ra.
Từ nhiều chương trình về một “bản đồ” nguồn lực
Trước khi hợp nhất, các chương trình mục tiêu quốc gia có những nội dung giao thoa về đối tượng, địa bàn và nhiệm vụ. Khi cùng hướng tới giảm nghèo, phát triển nông thôn, nâng cao chất lượng đời sống hay phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số, việc tổ chức theo các chương trình riêng biệt có thể phát sinh nhiều tầng nấc quản lý và hướng dẫn.
Nghị định 387/2026/NĐ-CP tổ chức lại nội dung theo 7 nhóm vấn đề có cùng tính chất, từ quy hoạch, hạ tầng và phát triển nông thôn đến sinh kế, giáo dục, y tế, văn hóa, chính sách vùng dân tộc thiểu số và hệ thống dữ liệu dùng chung.

Cách làm này tạo ra một thay đổi đáng chú ý trong quản lý nguồn lực. Thay vì nhìn một nhiệm vụ thuộc về “chương trình nào”, cơ quan thực hiện có thể tiếp cận theo câu hỏi mục tiêu nào cần đạt, nguồn lực nào cần huy động và ai chịu trách nhiệm về kết quả.
Hệ thống chỉ tiêu đến năm 2030 và 2035 được cụ thể hóa trong các phụ lục cũng giúp việc phân bổ và theo dõi nguồn lực gắn chặt hơn với mục tiêu. Đây là điều kiện để chuyển từ tư duy “đã chi bao nhiêu” sang đánh giá “đã tạo ra kết quả gì”.
Đáng chú ý, việc hợp nhất không đồng nghĩa với cắt giảm hay thiết kế lại toàn bộ chính sách. Mục tiêu, phạm vi, thời gian thực hiện và đối tượng hỗ trợ được kế thừa trên cơ sở chủ trương đầu tư đã được Quốc hội quyết định. Nghị định cũng yêu cầu việc phân cấp không làm thay đổi quyền lợi hoặc làm giảm mức hỗ trợ tối thiểu của người thụ hưởng.
Phân cấp để địa phương quyết, nhưng không “khoán trắng”
Điểm mới có ý nghĩa trực tiếp với quá trình triển khai là tăng quyền chủ động cho địa phương. Những nhiệm vụ gắn với người dân, cộng đồng và điều kiện cụ thể của từng địa bàn được đẩy mạnh phân cấp; trong khi Trung ương tập trung vào tiêu chuẩn, quy chuẩn, hướng dẫn chuyên môn, điều phối và giám sát.
Tuy nhiên, phân cấp chỉ tạo ra hiệu quả khi đi cùng nguồn lực và trách nhiệm. Nghị định quy định cấp nào được giao tổ chức thực hiện thì được bố trí kinh phí trong dự toán của cấp đó; đồng thời cấp tổ chức thực hiện phải chịu trách nhiệm về kết quả.
Đây là điểm có thể tác động đáng kể đến hiệu quả của chương trình. Khi địa phương có quyền chủ động hơn trong lựa chọn và tổ chức nhiệm vụ, việc quyết định đầu tư có điều kiện bám sát nhu cầu thực tế. Ngược lại, trách nhiệm giải trình cũng rõ hơn nếu mục tiêu không đạt hoặc nguồn lực sử dụng chưa hiệu quả.
Ở cấp Trung ương, mỗi nội dung, mục tiêu và chỉ tiêu được xác định một cơ quan chủ trì chịu trách nhiệm chính. Các bộ quản lý ngành vừa hướng dẫn chuyên môn, vừa theo dõi, đánh giá và giải trình về kết quả thuộc lĩnh vực được giao.
Như vậy, mô hình mới tạo ra một chuỗi trách nhiệm tương đối rõ: Trung ương định hướng và giám sát; địa phương tổ chức thực hiện; nguồn lực được phân bổ theo nhiệm vụ; kết quả trở thành căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả.
Đây cũng là cách hạn chế tình trạng nhiều cơ quan cùng tham gia nhưng không có một đầu mối thực sự chịu trách nhiệm đến cùng.
Với quy mô triển khai kéo dài đến năm 2035, hiệu quả của 4 Chương trình mục tiêu quốc gia sẽ không chỉ phụ thuộc vào tổng số nguồn vốn được bố trí. Quan trọng hơn là khả năng đưa nguồn lực đến đúng địa bàn, đúng đối tượng và đúng vấn đề cần giải quyết.
Nếu thực hiện tốt, việc hợp nhất có thể giúp giảm các tầng nấc trung gian, hạn chế chồng chéo và tăng khả năng phối hợp giữa các lĩnh vực. Khi đó, giá trị của một chương trình không còn được đo chủ yếu bằng số tiền đã giải ngân, mà bằng những thay đổi thực tế mà nguồn lực đó tạo ra cho người dân và địa phương.
Minh Thành (t/h)























