Mặt bằng lãi suất tiền gửi đầu tháng 10 cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ giữa các ngân hàng. Trong khi nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì lãi suất tương đối thấp, một số ngân hàng thương mại cổ phần đã đưa lãi suất ở các kỳ hạn trung và dài lên trên 7%/năm.

Tại kỳ hạn 6 tháng, Sacombank niêm yết 7,2%/năm, BAC A BANK 7,05%/năm, trong khi VCBNeo, LPBank và MBV cùng ở mức 7%/năm. Ở kỳ hạn 12 tháng, Sacombank lên 7,5%/năm; LPBank và SaigonBank 7,2%/năm; BAC A BANK 7,1%/năm.

Trong khi đó, Vietcombank, VietinBank và Agribank cùng niêm yết 5,9%/năm ở kỳ hạn 12 tháng. Khoảng cách hơn 1,5 điểm phần trăm cho thấy chiến lược huy động giữa các nhóm ngân hàng đang có sự khác biệt đáng kể.

Lãi suất huy động tại một số ngân hàng thương mại đã vượt 7%/năm ở các kỳ hạn trung và dài trong tháng 10.
Lãi suất huy động tại một số ngân hàng thương mại đã vượt 7%/năm ở các kỳ hạn trung và dài trong tháng 10.

Lãi suất niêm yết chỉ là “lớp” đầu tiên

Điểm đáng chú ý của thị trường tiền gửi tháng 10 là mức lãi suất công bố trên biểu niêm yết chưa phản ánh toàn bộ mức hưởng mà khách hàng có thể nhận.

Một số ngân hàng đang sử dụng chương trình cộng lãi suất để thu hút tiền gửi mới hoặc khuyến khích khách hàng duy trì khoản tiền đến kỳ hạn dài hơn. Cake by VPBank hiện niêm yết 7,2%/năm cho kỳ hạn 6–9 tháng và 7,4%/năm cho kỳ hạn 10–24 tháng. Với chương trình áp dụng đến hết tháng 10, một số khách hàng đủ điều kiện có thể được cộng thêm tối đa 2,2%/năm, đưa mức hưởng tương đương lên tới 9,6%/năm.

Techcombank cũng triển khai chương trình cộng thêm lãi suất cho một số sản phẩm tiền gửi trực tuyến kỳ hạn 6 và 12 tháng. Mức cộng tối đa được công bố là 1,8%/năm tùy quy mô khoản tiền.

Một hướng khác là chứng chỉ tiền gửi. Tại một số ngân hàng, sản phẩm này đang có mức lãi suất cao hơn đáng kể so với tiền gửi tiết kiệm thông thường.

Chẳng hạn, chứng chỉ tiền gửi kỳ hạn 6 tháng tại Vietcombank được niêm yết 7,5%/năm, trong khi tiền gửi tiết kiệm thông thường cùng kỳ hạn trong bảng khảo sát ở mức 3,5%/năm. BIDV cũng có chứng chỉ tiền gửi với lãi suất 7,2–7,4%/năm tùy kỳ hạn.

Sự chênh lệch này cho thấy ngân hàng đang sử dụng nhiều công cụ khác nhau để cạnh tranh nguồn vốn, thay vì chỉ điều chỉnh biểu lãi suất tiền gửi thông thường.

Áp lực huy động chưa giảm khi tín dụng tăng tốc

Phía sau cuộc đua lãi suất là nhu cầu vốn của nền kinh tế và yêu cầu cân đối thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong những tháng cuối năm.

Khi tín dụng bước vào giai đoạn tăng tốc, ngân hàng cần đồng thời mở rộng nguồn vốn đầu vào và bảo đảm khả năng đáp ứng các khoản giải ngân lớn. Điều này tạo thêm động lực để các ngân hàng duy trì sức hấp dẫn đối với tiền gửi dân cư và tổ chức.

Các dự báo gần đây cũng cho thấy khả năng lãi suất huy động giảm nhanh trong quý IV chưa rõ ràng. VNDirect đã điều chỉnh kỳ vọng theo hướng mặt bằng lãi suất có thể chỉ hạ nhiệt rõ hơn từ đầu năm 2027. VCBS cũng dự báo lãi suất huy động duy trì quanh vùng hiện tại trong bối cảnh nhu cầu tín dụng và yêu cầu thanh khoản gia tăng.

Với người gửi tiền, mức lãi suất cao vì vậy cần được nhìn cùng điều kiện đi kèm. Không phải mọi khoản tiền đều được hưởng mức lãi suất quảng bá cao nhất; nhiều chương trình yêu cầu khách hàng mới, số dư tối thiểu, kỳ hạn cụ thể hoặc sử dụng một sản phẩm nhất định.

Đặc biệt, khách hàng cần kiểm tra trực tiếp mức lãi suất và điều kiện trên website, ứng dụng chính thức hoặc hợp đồng tiền gửi của ngân hàng. Với giao dịch trực tuyến, không cung cấp OTP hoặc chuyển tiền vào tài khoản cá nhân theo hướng dẫn của người tự nhận là nhân viên ngân hàng.

Trong bối cảnh cạnh tranh huy động vốn còn cao, tháng 10 có thể tiếp tục chứng kiến sự phân hóa mạnh về lãi suất giữa các ngân hàng và giữa từng sản phẩm. Với người gửi tiền, bài toán không chỉ là tìm mức lãi suất cao nhất mà còn phải tính đến kỳ hạn, khả năng rút vốn và các điều kiện để thực sự nhận được mức lãi suất được công bố.

 Lãi suất nêu trong bài là mức tham khảo tại thời điểm khảo sát; mức áp dụng thực tế có thể thay đổi tùy sản phẩm, phương thức gửi tiền và điều kiện của từng ngân hàng.

Minh Thành (t/h)