Ở nhiều địa bàn vùng cao Lào Cai, quế và dược liệu không chỉ là những cây trồng có lợi thế mà còn gắn với sinh kế của người dân. Nhưng giá trị của vùng nguyên liệu không chỉ nằm ở diện tích, mà còn phụ thuộc vào chất lượng sản phẩm, cách tổ chức sản xuất, khả năng chế biến và đầu ra thị trường.

Bởi vậy, cùng với phát triển sản xuất hàng hóa, tạo sinh kế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, Lào Cai đang hướng khoa học, công nghệ vào những khâu có khả năng nâng giá trị chuỗi quế, dược liệu, từ vùng trồng đến chế biến và tiêu thụ.

Từ lợi thế vùng nguyên liệu, Lào Cai đang hướng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chế biến và kết nối thị trường đối với cây quế, cây dược liệu. (Ảnh: Đức Diện)
Từ lợi thế vùng nguyên liệu, Lào Cai đang hướng khoa học, công nghệ vào sản xuất, chế biến và kết nối thị trường đối với cây quế, cây dược liệu. (Ảnh: Đức Diện)

Đưa công nghệ về gần vùng trồng

Với người trồng quế, hiệu quả sản xuất trước hết được quyết định ngay từ vùng nguyên liệu. Trong khi đó, tác động của biến đổi khí hậu cùng phương thức canh tác thuần loài đang làm xuất hiện ngày càng nhiều loại sâu bệnh. Việc nhận diện và xác định biện pháp phòng trừ hiện chủ yếu dựa vào cơ quan chuyên môn hoặc kinh nghiệm của người dân nên có thời điểm chưa kịp thời hoặc độ chính xác chưa cao.

Để giải quyết hạn chế này, Lào Cai đặt ra nhiệm vụ xây dựng phần mềm mã nguồn mở phục vụ tra cứu, nhận diện và cung cấp thông tin phòng trừ sâu bệnh trên cây quế. Thông qua điện thoại, người dân có thể chụp ảnh, nhận diện sâu bệnh, tra cứu thông tin và tiếp cận hướng dẫn về biện pháp phòng trừ. Từ đó, công nghệ được đưa trực tiếp vào quá trình canh tác, hỗ trợ người trồng quế chủ động hơn trong phát hiện và xử lý sâu bệnh.

Cùng với đó, nếu thông tin nguồn gốc nguyên liệu quế trước đây chủ yếu được xác nhận thông qua bảng kê lâm sản bằng giấy, thì hiện nay tỉnh Lào Cai hướng tới đưa thông tin vùng quế hữu cơ, rừng được quản lý bền vững và mã số vùng trồng lên hệ thống iT-wood. Đến năm 2030, khoảng 2.000 ha quế được đặt mục tiêu cấp mới mã số vùng trồng và cập nhật trên hệ thống.

Không chỉ với cây quế, không gian phát triển sinh kế từ dược liệu cũng được mở rộng dưới tán rừng. Đến năm 2030, Lào Cai đặt mục tiêu phát triển 100 ha dược liệu quý dưới tán rừng với các loài như thất diệp nhất chi hoa, đảng sâm Việt Nam, hoàng tinh hoa đỏ, hoàng tinh hoa trắng, sâm Lai Châu, sâm Ngọc Linh... thông qua tuyên truyền, hướng dẫn và hỗ trợ người dân, doanh nghiệp theo các chính sách hiện hành.

Bên cạnh đó, phát triển vùng trồng dược liệu quý, dược liệu có giá trị kinh tế cũng nằm trong các giải pháp hỗ trợ sản xuất, tạo sinh kế tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cũng được tỉnh Lào Cai xác định trong Chương trình mục tiêu quốc gia gắn với phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững và bảo vệ rừng. Đây là hướng đi mở thêm không gian sản xuất hàng hóa, đa dạng sinh kế tại những địa bàn có lợi thế.

Từ cây quế đến cây dược liệu, mở rộng vùng trồng được đặt cùng yêu cầu nâng chất lượng vùng nguyên liệu. Đến năm 2030, Lào Cai đặt mục tiêu tối thiểu 70% sản phẩm chủ lực thuộc phạm vi kế hoạch ứng dụng khoa học, công nghệ được cấp mã số vùng trồng và có hồ sơ số phục vụ truy xuất nguồn gốc; trong đó tối thiểu 40% sản phẩm tham gia hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Như vậy, công nghệ không chỉ xuất hiện ở khâu chế biến phía sau mà đang được hướng về vùng trồng, nơi người dân trực tiếp sản xuất. Từ nhận diện sâu bệnh, quản lý nguồn gốc đến mã số vùng trồng và truy xuất sản phẩm, những giải pháp này tạo nền tảng để vùng nguyên liệu từng bước đáp ứng tốt hơn yêu cầu của sản xuất hàng hóa, trước khi đi tiếp vào chế biến và thị trường.

Với quế và dược liệu, nâng giá trị sau thu hoạch là một mắt xích quan trọng để
Với quế và dược liệu, nâng giá trị sau thu hoạch là một mắt xích quan trọng để nâng thu nhập, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. (Ảnh: Đức Diện)

Từ chuỗi giá trị đến sinh kế bền vững

Tuy nhiên, phát triển vùng trồng mới giải quyết một phần của bài toán sinh kế. Để quế, dược liệu tạo ra giá trị cao hơn cho người dân, vùng nguyên liệu còn phải được nối với chế biến và thị trường. Điều này càng có ý nghĩa khi Chương trình mục tiêu quốc gia năm 2026 đặt ra những mục tiêu cụ thể về thu nhập, sản xuất hàng hóa và giảm nghèo tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.

Theo đó, Lào Cai phấn đấu tăng thu nhập bình quân của người dân tộc thiểu số bằng 1/2 bình quân chung của cả nước; góp phần giảm tỷ lệ hộ nghèo đa chiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi xuống dưới 10%; đồng thời phấn đấu 80% số hộ nông dân người dân tộc thiểu số biết làm kinh tế nông - lâm nghiệp hàng hóa.

Để thực hiện các mục tiêu này, phát triển vùng trồng dược liệu quý, dược liệu có giá trị kinh tế; phát triển kinh tế nông, lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ rừng và nâng cao thu nhập; thúc đẩy khởi sự kinh doanh, khởi nghiệp, thu hút đầu tư và tiêu thụ sản phẩm vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đều được đặt trong nhóm nội dung hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo sinh kế.

Với quế và dược liệu, nâng giá trị sau thu hoạch là một mắt xích quan trọng. Để đạt được các mục tiêu, tỉnh Lào Cai xác định năng lực ứng dụng công nghệ mới trong công nghiệp dược liệu và cây trồng chủ lực còn hạn chế, thiếu công nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, tỉnh cũng tiến tới soát những công đoạn còn hạn chế về hiệu suất, chất lượng, thời gian sản xuất, tiêu hao năng lượng và tổn thất nguyên liệu để nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng công nghệ và quy trình chế biến tại doanh nghiệp, hợp tác xã.

Đáng chú ysm ở đầu ra của chuỗi giá trị dược liệu, quế được định hướng có doanh nghiệp dẫn dắt, vùng nguyên liệu rõ ràng, hợp đồng liên kết và phương án tiêu thụ cụ thể. Bảo quản sau thu hoạch, kho mát, kho lạnh, đóng gói, vận chuyển được gắn với xúc tiến thương mại, thương mại điện tử, xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường trong nước, xuất khẩu.

Bên cạnh đó, tỉnh Lào Cai hướng tới hình thành các chuỗi giá trị gắn sản xuất - chế biến - tiêu thụ; nhân rộng các mô hình sinh kế, hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo tiếp cận tín dụng chính sách, khoa học kỹ thuật và thị trường, đồng thời tăng cường phòng ngừa tái nghèo.

Điều đáng chú ý là người dân không đứng ngoài quá trình tổ chức lại chuỗi sản xuất mà thay vào đó, người dân được xác định là chủ thể sản xuất; hợp tác xã tổ chức sản xuất, liên kết vùng nguyên liệu; doanh nghiệp tham gia đổi mới công nghệ, chế biến sâu và thương mại hóa. Sự phân vai này tạo điều kiện để vùng nguyên liệu được nối với chế biến và đầu ra, thay vì các hỗ trợ về kỹ thuật, sản xuất hay thị trường vận hành riêng lẻ.

Đến năm 2030, Lào Cai đặt mục tiêu giá trị sản phẩm bình quân của các vùng, mô hình và chuỗi giá trị được lựa chọn thực hiện “Bài toán lớn số 3” tăng 2 lần so với năm 2026. Đây là mục tiêu cụ thể của kế hoạch ứng dụng khoa học, công nghệ, cho thấy yêu cầu nâng giá trị sản phẩm được đặt xuyên suốt từ vùng nguyên liệu đến chế biến và thị trường.

Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, ý nghĩa của hướng đi này không chỉ nằm ở việc có thêm diện tích quế, dược liệu hay thêm một giải pháp công nghệ được ứng dụng. Quan trọng hơn là khả năng đưa người dân tham gia sâu hơn vào sản xuất hàng hóa, tạo thêm giá trị từ vùng nguyên liệu và kết nối sản phẩm với thị trường. Đó cũng là cơ sở để mở rộng sinh kế, nâng thu nhập, hạn chế nguy cơ tái nghèo và góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững từ chính những lợi thế của địa phương.

Hải Minh