
Tổ chức lại sản xuất từ chuỗi liên kết
Trồng dâu, nuôi tằm vốn là nghề có tiềm năng tại địa phương, song quy mô sản xuất nhỏ lẻ, kỹ thuật chưa đồng đều và đầu ra thiếu ổn định từng là những trở ngại đối với người dân. Từ thực tế này, chị Nguyễn Thị Hồng Lê lựa chọn hướng liên kết các hộ sản xuất, từng bước tổ chức lại nghề dâu tằm theo hướng tập trung hơn.
Năm 2023, Hợp tác xã Dâu tằm Hạnh Lê được thành lập, do chị Nguyễn Thị Hồng Lê làm Giám đốc. Đến nay, Hợp tác xã đã liên kết với 3 tổ hợp tác, gồm 56 thành viên; đầu tư cơ sở nuôi tằm con rộng 150 m² và 2,5 ha dâu kinh doanh.
Bình quân mỗi năm, Hợp tác xã sản xuất khoảng 200 tờ trứng giống tằm, tương đương trên 2.000 vòng tằm, cung ứng cho các hộ thành viên và người nuôi tằm tại một số địa phương lân cận.
Điểm đáng chú ý của mô hình không chỉ nằm ở việc mở rộng quy mô sản xuất, mà là cách từng khâu trong nghề dâu tằm được kết nối. Hợp tác xã tham gia chuỗi liên kết phát triển sản xuất trồng dâu, nuôi tằm giai đoạn 2024 - 2025 theo chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh. Thông qua chuỗi liên kết, các hộ được hỗ trợ, hướng dẫn sử dụng giống dâu, giống tằm tiến bộ; đầu tư nhà tằm con, nhà tằm lớn, né gỗ ô vuông; đồng thời áp dụng kỹ thuật trong thâm canh, chăm sóc cây dâu và nuôi tằm.
Cùng với việc củng cố khâu sản xuất, bài toán thị trường cũng được đặt vào chuỗi liên kết. Hợp tác xã trở thành đầu mối kết nối các tổ, nhóm nông dân với Công ty Cổ phần Dâu tằm tơ Yên Bái để tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh bao tiêu sản phẩm, Hợp tác xã cung ứng tằm giống, vật tư chuyên dụng, thuốc phòng trừ sâu bệnh và hướng dẫn người dân cải tạo nhà tằm. Việc kết nối từ giống, kỹ thuật đến tiêu thụ giúp các hộ tham gia từng bước khắc phục tình trạng sản xuất riêng lẻ và giảm áp lực tự tìm đầu ra sau mỗi vụ nuôi.
Hiệu quả kinh tế thể hiện khá rõ trên cùng một đơn vị diện tích. Theo số liệu được công bố, doanh thu từ mỗi ha đất trồng dâu, nuôi tằm đạt trên 300 triệu đồng/năm, cao gấp khoảng 3,5 - 4 lần so với canh tác lúa truyền thống.
Đây cũng là cơ sở để nghề dâu tằm không chỉ được nhìn nhận như một phương thức sản xuất nông nghiệp, mà từng bước trở thành sinh kế mang lại nguồn thu thường xuyên cho những hộ tham gia liên kết.

Từ giá trị trên đất đến sinh kế cho người dân
Cùng với nâng hiệu quả kinh tế, Hợp tác xã Dâu tằm Hạnh Lê đang triển khai sản xuất theo hướng tận dụng phụ phẩm và giảm chất thải. Cụ thể, chất thải từ quá trình nuôi tằm cùng cành, thân cây dâu sau mỗi chu kỳ đốn tỉa được băm nhỏ, ủ bằng men vi sinh thành phân bón hữu cơ để sử dụng trở lại cho đồng dâu. Quy trình này giúp tận dụng nguồn phụ phẩm ngay trong sản xuất, giảm một phần chi phí đầu vào và hạn chế sử dụng phân bón hóa học.
Kết quả hoạt động của Hợp tác xã cho thấy quy mô kinh tế của mô hình đã từng bước được hình thành. Mỗi năm, Hợp tác xã đạt doanh thu gần 1,89 tỷ đồng, lợi nhuận khoảng 970 triệu đồng sau khi trừ chi phí. Lao động chính và lao động thời vụ có mức thu nhập từ 10 - 15 triệu đồng/người/tháng. Phần lợi nhuận tiếp tục được tái đầu tư để mở rộng sản xuất.
“Chúng tôi rất hy vọng sẽ tạo ra được nhiều giá trị hơn, giúp đỡ nhiều bà con có công việc, thu nhập ổn định”, chị Nguyễn Thị Hồng Lê chia sẻ.
Không giữ kỹ thuật trong phạm vi Hợp tác xã, chị Hồng Lê còn trực tiếp hướng dẫn người dân trồng dâu, nuôi tằm; chia sẻ kỹ thuật sản xuất, các biện pháp bảo vệ môi trường và bảo đảm an toàn sinh học. Đây là một mắt xích quan trọng khi mở rộng mô hình, bởi hiệu quả của chuỗi liên kết phụ thuộc không chỉ vào thị trường tiêu thụ mà còn vào khả năng duy trì chất lượng sản xuất giữa các hộ tham gia.
Gia đình chị hiện có 2 ha đất trồng dâu, nuôi tằm và 1 ha rừng với 8.000 cây quế. Từ nguồn vốn tích lũy, chị đầu tư máy làm cỏ, máy băm cây dâu và xe chuyên chở tằm giống. Các phương tiện vừa phục vụ sản xuất của gia đình, vừa đáp ứng nhu cầu của người dân trong vùng.
Từ một nghề sản xuất còn phân tán, việc hình thành Hợp tác xã, liên kết các hộ dân và kết nối với doanh nghiệp tiêu thụ đang tạo ra một cách tổ chức sản xuất khác cho nghề dâu tằm tại Trấn Yên. Thay vì từng hộ tự lo từ giống, kỹ thuật đến đầu ra, các khâu dần được đưa vào một chuỗi có sự liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Với những kết quả đạt được trong sản xuất và liên kết phát triển nghề dâu tằm, năm 2026, chị Nguyễn Thị Hồng Lê là một trong 3 nông dân của tỉnh Lào Cai được vinh danh “Nông dân Việt Nam xuất sắc 40 năm Đổi mới”.
Từ giá trị trên 300 triệu đồng/ha/năm đến việc tạo thêm việc làm, thu nhập cho các hộ tham gia, mô hình Hợp tác xã Dâu tằm Hạnh Lê cho thấy dư địa nâng giá trị sản xuất nông nghiệp không nhất thiết chỉ đến từ mở rộng diện tích. Việc tổ chức lại sản xuất, đưa người dân vào chuỗi liên kết và gắn sản xuất với thị trường đang mở thêm hướng phát triển cho nghề dâu tằm ngay trên diện tích đất nông nghiệp hiện có.
Hải Minh






















