Tại Hội thảo “Huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực tài chính kinh tế tư nhân: Động lực cho tăng trưởng kinh tế” diễn ra sáng 28/8, các chuyên gia cho rằng Việt Nam đang đứng trước yêu cầu thay đổi phương thức huy động và phân bổ nguồn lực. Mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10% mỗi năm giai đoạn 2026-2030 đòi hỏi lượng vốn đầu tư xã hội rất lớn, trong khi tín dụng ngân hàng không thể là nguồn cung duy nhất.

Tính đến hết tháng 7/2026, Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động với tổng vốn đăng ký hơn 30,8 triệu tỷ đồng, trong đó khu vực tư nhân chiếm gần 78%. Cùng với đó là lượng tiền gửi lớn của người dân và nhiều nguồn lực tài chính khác đang tồn tại trong nền kinh tế.

Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô nguồn vốn mà còn ở khả năng đưa nguồn lực này vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nếu dòng vốn tiếp tục ưu tiên doanh nghiệp có nhiều tài sản thế chấp, những doanh nghiệp sở hữu công nghệ, dữ liệu, thương hiệu hoặc mô hình kinh doanh mới nhưng ít tài sản hữu hình sẽ khó có cơ hội mở rộng.

Dòng vốn được phân bổ hiệu quả sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ảnh: vneconomy.vn
Dòng vốn được phân bổ hiệu quả sẽ tạo thêm dư địa để doanh nghiệp tư nhân mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh. Ảnh: vneconomy.vn

Dòng tiền cần được xem như một loại tài sản

Một trong những điểm nghẽn lớn của doanh nghiệp tư nhân là khả năng tiếp cận tín dụng. Khoảng 93,5% khoản vay tại Việt Nam vẫn yêu cầu tài sản thế chấp, theo các số liệu được nêu tại hội thảo.

Theo TS. Nguyễn Thị Luyến, Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược, cần từng bước chuyển từ cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang đánh giá dựa trên dòng tiền và dữ liệu doanh nghiệp. Hệ thống hóa đơn điện tử, dữ liệu thuế và lịch sử giao dịch có thể giúp ngân hàng đánh giá sát hơn sức khỏe tài chính và khả năng trả nợ của doanh nghiệp.

Thay đổi này đặc biệt có ý nghĩa với doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ và các mô hình khởi nghiệp sáng tạo. Một doanh nghiệp không sở hữu nhiều bất động sản nhưng có doanh thu ổn định, đơn hàng tốt và dòng tiền lành mạnh vẫn cần được nhìn nhận như một khách hàng có tiềm năng.

Song song với tín dụng ngân hàng, Việt Nam cần phát triển thị trường chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư và vốn mạo hiểm. Bà Nguyễn Thị Thu, Ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, cho rằng tiếp tục dựa quá nhiều vào tín dụng có thể làm gia tăng áp lực lạm phát và rủi ro nợ.

Từ giải phóng vốn đến nâng chất lượng tăng trưởng

Thách thức lớn hơn đối với kinh tế tư nhân không chỉ là thiếu vốn mà còn là năng lực hấp thụ vốn. Th.S Nguyễn Thị Chinh, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, cho biết khu vực tư nhân vẫn phân mảnh, phần lớn là doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ, trong khi năng lực công nghệ và quản trị còn hạn chế. Đầu tư tư nhân giai đoạn 2021-2025 chỉ tăng bình quân khoảng 4,1% mỗi năm.

Vì vậy, cải thiện khả năng tiếp cận vốn phải đi cùng cải cách môi trường kinh doanh, bảo đảm quyền tài sản và tạo sự ổn định cho các quyết định đầu tư dài hạn.

TS. Nguyễn Anh Tuấn, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (VAFIE), cũng nhấn mạnh yêu cầu tăng liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước và khu vực FDI. Dòng vốn ngoại cần tạo thêm hiệu ứng lan tỏa về công nghệ, quản trị và thị trường cho doanh nghiệp trong nước.

Ở góc độ này, giải phóng vốn tư nhân không đơn thuần là bỏ yêu cầu tài sản thế chấp. Quan trọng hơn là thay đổi cách nhìn nhận giá trị doanh nghiệp, từ việc doanh nghiệp sở hữu bao nhiêu tài sản sang khả năng tạo ra dòng tiền, công nghệ và giá trị trong tương lai.

Khi thị trường vốn được mở rộng, dữ liệu trở thành cơ sở đánh giá tín nhiệm và nguồn lực được phân bổ cho những doanh nghiệp có năng lực thực sự, vốn tư nhân sẽ có cơ hội chuyển hóa thành đầu tư sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất. Đây là nền tảng để khu vực tư nhân trở thành động lực thực chất cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam.

Nam Sơn (t/h)