Xuất khẩu tăng, nhập khẩu giảm nhưng nguyên liệu vẫn là điểm nghẽn

Trong 8 tháng năm 2026, Việt Nam xuất khẩu hơn 2,05 triệu tấn phân bón, tăng 36,6% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch đạt hơn 1,11 tỷ USD, tăng tới 78,2%.

Việc giá trị xuất khẩu tăng nhanh hơn sản lượng cho thấy cơ cấu sản phẩm và thị trường đang có chuyển biến theo hướng tích cực. Campuchia tiếp tục là thị trường lớn nhất với 475.307 tấn, trị giá hơn 211 triệu USD; tiếp đến là Hàn Quốc, Philippines, Malaysia và Lào.

Đáng chú ý, doanh nghiệp đang mở rộng thị trường thay vì phụ thuộc vào một vài điểm đến truyền thống. Ấn Độ cũng được đánh giá còn nhiều dư địa khi nhu cầu phân bón mỗi năm khoảng 18-20 triệu tấn. Khác biệt về mùa vụ có thể tạo thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam điều tiết xuất khẩu.

Ngành phân bón đang chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị sản phẩm, chủ động nguyên liệu và phát triển theo hướng xanh, hiệu quả hơn.
Ngành phân bón đang chuyển từ tăng sản lượng sang nâng giá trị sản phẩm, chủ động nguyên liệu và phát triển theo hướng xanh, hiệu quả hơn

Ở chiều ngược lại, 8 tháng đầu năm, Việt Nam nhập khẩu gần 2,6 triệu tấn phân bón, trị giá 890,2 triệu USD, giảm lần lượt 40,3% về lượng và 41,1% về giá trị so với cùng kỳ.

Trung Quốc vẫn là nguồn cung lớn nhất với khoảng 1,02 triệu tấn, tiếp đến là Nga, Nhật Bản, Lào và Hàn Quốc. Cơ cấu nhập khẩu đa dạng hơn cho thấy doanh nghiệp có thêm lựa chọn về nguồn cung.

Tuy nhiên, giảm nhập khẩu thành phẩm chưa đồng nghĩa với tự chủ hoàn toàn. Việt Nam vẫn phải nhập khẩu toàn bộ nhu cầu kali cùng một lượng đáng kể amoniac và lưu huỳnh phục vụ sản xuất. Vì vậy, chi phí phân bón trong nước vẫn chịu tác động trực tiếp từ giá năng lượng, nguyên liệu và biến động thị trường quốc tế.

Bài toán tự chủ vì thế cần được nhìn rộng hơn: không chỉ sản xuất được nhiều phân bón hơn mà phải kiểm soát tốt hơn các yếu tố đầu vào, công nghệ và chi phí sản xuất.

Từ bán nhiều hơn sang tạo ra sản phẩm có giá trị cao hơn

Khi thị trường quốc tế ngày càng cạnh tranh và các yêu cầu về môi trường gia tăng, dư địa tăng trưởng của ngành phân bón sẽ phụ thuộc nhiều hơn vào chất lượng sản phẩm và hiệu quả sử dụng.

Theo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2040, ngành được định hướng phát triển hiện đại, nâng năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Đối với phân bón, định hướng này đang thúc đẩy quá trình chuyển từ cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng công nghệ và giá trị gia tăng. Các dòng phân bón hữu cơ, sinh học, phân bón hiệu suất cao và sản phẩm chuyên dụng có thêm dư địa khi nông nghiệp chuyển sang mô hình tiết kiệm đầu vào, nâng năng suất và giảm tác động môi trường.

Chuyển đổi xanh cũng trở thành yêu cầu ngày càng rõ. Doanh nghiệp phải tính toán lại mức tiêu hao năng lượng, nguyên liệu, phát thải trong sản xuất và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường của thị trường xuất khẩu.

Cùng với đó, chuyển đổi số có thể hỗ trợ quản trị sản xuất, kiểm soát chất lượng, dự báo nhu cầu và tối ưu chuỗi cung ứng. Liên kết giữa doanh nghiệp phân bón, viện nghiên cứu, ngành nông nghiệp và người sản xuất cũng cần được tăng cường để sản phẩm được phát triển sát hơn với nhu cầu từng vùng cây trồng.

Trong bối cảnh thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu còn biến động, xuất khẩu tăng là tín hiệu tích cực nhưng chưa phải thước đo duy nhất của sức cạnh tranh. Khả năng chủ động nguyên liệu, kiểm soát chi phí, phát triển sản phẩm giá trị cao và đáp ứng các tiêu chuẩn xanh mới là những yếu tố quyết định vị thế của ngành trong dài hạn.

Minh Thành (t/h)