Nghị định 50/2026/NĐ-CP quy định chi tiết việc miễn, giảm tiền thuê đất, trong đó phân định rõ từng trường hợp áp dụng cũng như trình tự, thủ tục thực hiện nhằm bảo đảm thống nhất với Luật Đất đai 2024 và các văn bản liên quan.

Theo Nghị định, đối với trường hợp được miễn tiền thuê đất cho cả thời gian thuê, cơ quan nhà nước không thực hiện thủ tục xác định giá đất, cũng không tính tiền thuê đất được miễn theo khoản 3 Điều 157 Luật Đất đai 2024. Đồng thời, người sử dụng đất thuộc diện này cũng không phải thực hiện thủ tục đề nghị miễn tiền thuê đất. Quy định này nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm gánh nặng hồ sơ cho người sử dụng đất trong các trường hợp đã được xác định rõ là thuộc diện miễn toàn bộ tiền thuê đất.

Đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất hằng năm và được miễn tiền thuê đất trong một số năm theo Điều 39 Nghị định 103/2024/NĐ-CP, hoặc được trừ kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo hình thức quy đổi thành số năm, tháng hoàn thành nghĩa vụ tài chính về tiền thuê đất, Nghị định 50/2026 quy định rõ trách nhiệm của người sử dụng đất. Cụ thể, trước thời điểm hết thời hạn được miễn tiền thuê đất, hoặc trước thời điểm kết thúc thời gian hoàn thành nghĩa vụ tài chính do được trừ kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, tối thiểu 6 tháng, người sử dụng đất phải thực hiện thủ tục kê khai để nộp tiền thuê đất theo quy định.

Trường hợp người sử dụng đất chậm thực hiện thủ tục kê khai nộp tiền thuê đất, ngoài việc phải nộp số tiền thuê đất bị truy thu hằng năm theo chính sách và giá đất của từng năm, còn phải nộp thêm khoản tiền tương đương tiền chậm nộp theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Khoản tiền chậm nộp này được tính trên số tiền thuê đất phải nộp đối với toàn bộ thời gian chậm làm thủ tục kê khai, qua đó tăng tính ràng buộc và trách nhiệm tuân thủ pháp luật của người sử dụng đất.

Về quy trình phối hợp giữa các cơ quan, Nghị định 50/2026 quy định Văn phòng đăng ký đất đai hoặc bộ phận một cửa liên thông, hoặc cơ quan ký hợp đồng BT trong trường hợp giao đất, cho thuê đất để thanh toán hợp đồng BT, hoặc cơ quan, người có thẩm quyền được giao nhiệm vụ lập Phiếu chuyển thông tin, có trách nhiệm chuyển Phiếu chuyển thông tin sang cơ quan thuế để thực hiện việc tính tiền sử dụng đất, tiền thuê đất theo quy định.

Đối với trường hợp được miễn tiền thuê đất trong một số năm, người thuê đất phải nộp hồ sơ đề nghị miễn tiền thuê đất theo cơ chế một cửa liên thông. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ sẽ lập Phiếu chuyển thông tin, trong đó thể hiện đầy đủ các nội dung như giá đất làm căn cứ tính tiền thuê đất, đối tượng được miễn, diện tích đất, thời gian được miễn tiền thuê đất. Phiếu chuyển thông tin này được gửi cho người sử dụng đất và cơ quan thuế để theo dõi, làm căn cứ thực hiện thủ tục tính tiền thuê đất trả hằng năm khi hết thời gian được miễn, hoặc để cơ quan thuế tính và thông báo tiền thuê đất nộp một lần cho cả thời gian thuê sau khi đã trừ đi thời gian được miễn theo quy định.

Trong trường hợp được giảm tiền thuê đất, Nghị định quy định người thuê đất cũng phải nộp hồ sơ đề nghị giảm tiền thuê đất theo cơ chế một cửa liên thông. Cơ quan có thẩm quyền lập Phiếu chuyển thông tin, trong đó ngoài các thông tin địa chính cơ bản còn phải thể hiện rõ giá đất tính tiền thuê đất, đối tượng được giảm, diện tích đất và mức giảm tiền thuê đất. Phiếu chuyển thông tin sau đó được chuyển cho người sử dụng đất và cơ quan thuế. Trên cơ sở này, cơ quan thuế sẽ tính toán cụ thể số tiền thuê đất được giảm, số tiền thuê đất phải nộp và ban hành Thông báo thu tiền thuê đất theo đúng quy định.

Việc ban hành Nghị định 50/2026/NĐ-CP được kỳ vọng sẽ góp phần hoàn thiện khung pháp lý về quản lý tài chính đất đai, đồng thời tạo thuận lợi hơn cho người sử dụng đất trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính, bảo đảm minh bạch, thống nhất trong quá trình miễn, giảm và thu tiền thuê đất.

Phương Thảo (t/h)