Lợi nhuận có nhưng rủi ro vẫn lớn
6 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 35,88 tỷ USD, tiếp tục cho thấy sức chống chịu và khả năng tạo nguồn thu ngoại tệ của ngành nông nghiệp. Nhu cầu đối với nông sản Việt Nam tại nhiều thị trường vẫn còn lớn, đặc biệt khi các sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, chất lượng cao và đáp ứng tiêu chuẩn xanh ngày càng được quan tâm.
Tuy nhiên, quy mô thị trường chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp sẵn sàng rót vốn lớn vào sản xuất nông nghiệp.
Ông Trần Ngọc Liêm, Phó Tổng Thư ký, Giám đốc VCCI khu vực TP.HCM, cho biết cả nước hiện có hơn 50.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, chỉ chiếm khoảng 1-2% tổng số doanh nghiệp.

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, số doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp cũng còn hạn chế, với dưới 300 doanh nghiệp, trong đó chưa đến 50 doanh nghiệp được công nhận là doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao.
Khoảng cách này cho thấy một nghịch lý: nông nghiệp có quy mô thị trường lớn, nhưng chưa tạo được môi trường đủ hấp dẫn để hình thành một lực lượng doanh nghiệp đông và mạnh.
Một nguyên nhân quan trọng là đặc thù của ngành. Một dự án nông nghiệp có thể phải mất nhiều năm mới hình thành vùng nguyên liệu và đạt sản lượng ổn định. Trong thời gian đó, doanh nghiệp phải đối mặt với thời tiết, dịch bệnh, biến động giá cả, thay đổi thị trường và yêu cầu ngày càng cao từ các nước nhập khẩu.
Trong khi đó, những dự án như vùng nguyên liệu, nhà máy chế biến, kho lạnh hay công nghệ cao đều cần lượng vốn lớn và thời gian thu hồi dài. Nếu chỉ dựa vào nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp khó có thể theo đuổi các kế hoạch đầu tư quy mô lớn.
Ông Nguyễn Mạnh Hùng, Nhà sáng lập, Phó Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Nafoods Group, cho rằng Việt Nam cần một tầm nhìn dài hạn hơn đối với nông nghiệp. Những mục tiêu đủ lớn sẽ tạo động lực để đổi mới chính sách đất đai, khoa học công nghệ, logistics, vốn và nhân lực.
Muốn doanh nghiệp đi đường dài, phải gỡ nút thắt từ mặt đất đến dòng vốn
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay là đất đai.
Doanh nghiệp muốn xây dựng vùng nguyên liệu quy mô lớn nhưng việc tiếp cận quỹ đất phù hợp vẫn khó khăn. Theo ông Ngô Xuân Chinh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, không ít doanh nghiệp có nhu cầu đầu tư nhưng chưa thể triển khai do thiếu quỹ đất đủ lớn và ổn định.
Ông Nguyễn Hoàng Anh, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Công ty Đầu tư Thủy sản Nam Miền Trung, cũng cho rằng tích tụ, tập trung đất đai vẫn là một trong những rào cản lớn đối với doanh nghiệp.
Một số chuyên gia đề xuất nghiên cứu mô hình “ngân hàng đất”, trong đó Nhà nước có thể tập hợp quỹ đất, tạo điều kiện cho doanh nghiệp thuê lại để phát triển vùng sản xuất tập trung. Khi doanh nghiệp có thể tiếp cận đất đai ổn định, họ mới có cơ sở đầu tư máy móc, nhà xưởng, công nghệ và xây dựng chuỗi nguyên liệu.
Hạ tầng cũng là một bài toán không thể tách rời. Nhiều vùng sản xuất còn thiếu kho lạnh, cơ sở sơ chế, trung tâm logistics và hệ thống vận chuyển phù hợp. Chi phí logistics cao không chỉ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp mà còn khiến nông sản Việt Nam khó cạnh tranh tại những thị trường yêu cầu giao hàng nhanh và chất lượng ổn định.
Nguồn nhân lực lại là một điểm nghẽn khác. Lao động nông nghiệp đang có xu hướng già hóa trong khi lao động trẻ chuyển dịch sang công nghiệp và dịch vụ. Khi nông nghiệp ngày càng phụ thuộc vào công nghệ, dữ liệu và quản trị chuỗi, thiếu nhân lực có chuyên môn sẽ trở thành trở ngại đối với quá trình hiện đại hóa.
Trong bức tranh đó, vốn trung và dài hạn có ý nghĩa đặc biệt.
Các dự án nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất xanh, kinh tế tuần hoàn, xây dựng vùng nguyên liệu hay chế biến sâu đều cần nguồn vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài. Doanh nghiệp vì vậy không chỉ cần vốn, mà cần một dòng vốn có kỳ hạn phù hợp với đặc thù sản xuất.
Hệ thống ngân hàng hiện vẫn là kênh cung ứng vốn chủ lực cho nông nghiệp, nông thôn thông qua các chương trình tín dụng ưu tiên. Định hướng tín dụng tiếp tục tập trung vào sản xuất, nông nghiệp, nông thôn, doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng như doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
Cùng với đó, tín dụng xanh đang mở ra một hướng mới. Các dự án nông nghiệp sạch, hữu cơ, tiết kiệm năng lượng, kinh tế tuần hoàn và giảm phát thải có thêm cơ hội tiếp cận nguồn vốn khi đáp ứng các tiêu chí môi trường và phát triển bền vững.
Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự đi vào những dự án dài hạn, chính sách tín dụng cần đi cùng cải cách đất đai, hạ tầng và cơ chế hỗ trợ đầu tư. Nếu doanh nghiệp có vốn nhưng không có đất ổn định, có vùng nguyên liệu nhưng thiếu logistics, hoặc có công nghệ nhưng không có nhân lực vận hành, hiệu quả đầu tư vẫn bị hạn chế.
Bà Lê Thị Ánh Tuyết, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai, cho biết dù đã có nhiều cơ chế khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp, số doanh nghiệp tiếp cận được các chính sách hỗ trợ vẫn còn hạn chế.
Điều này đặt ra yêu cầu phải thiết kế chính sách theo hướng dễ tiếp cận và sát với nhu cầu thực tế hơn.
Về dài hạn, doanh nghiệp vẫn là lực lượng có khả năng đưa vốn, công nghệ, quản trị và thị trường vào chuỗi nông nghiệp. Nhưng để doanh nghiệp đảm nhận vai trò này, môi trường đầu tư phải đủ ổn định để họ có thể tính toán trong 5 năm, 10 năm, thay vì chỉ nhìn vào một mùa vụ.
Khi đất đai được tổ chức tốt hơn, hạ tầng và logistics được cải thiện, nguồn nhân lực được nâng chất lượng và dòng tín dụng trung, dài hạn được mở rộng, nông nghiệp sẽ có cơ hội chuyển từ mô hình dựa nhiều vào sản lượng sang mô hình tạo giá trị cao hơn.
Đó cũng là điều kiện để hình thành những vùng nguyên liệu lớn, tăng chế biến sâu, phát triển nông nghiệp xanh và giúp doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nam Sơn (t/h)






















