Để đạt mục tiêu này, cần tiếp tục tháo gỡ các điểm nghẽn, tạo nền tảng để kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới. Đó là nội dung được các chuyên gia, nhà quản lý, doanh nghiệp chia sẻ tại Diễn đàn Kinh doanh 2026 với chủ đề “Tháo gỡ điểm nghẽn, đưa kinh tế số thành động lực tăng trưởng trong kỷ nguyên phát triển mới”, chiều 14-8, tại Hà Nội do Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức.
Tư duy chính sách linh hoạt
Ông Bùi Trung Nghĩa, Phó Chủ tịch VCCI cho hay, Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc chiến lược để thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là những động lực quan trọng của mô hình tăng trưởng mới, trong đó kinh tế số hướng tới đóng góp tối thiểu 30% GDP vào năm 2030. Chính phủ cũng đặt mục tiêu phát triển nền kinh tế số dựa trên nền tảng số, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, qua đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.
Ông Nghĩa cho rằng, kinh tế số không chỉ là ứng dụng công nghệ mà còn dựa trên dữ liệu, nền tảng số, AI và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, doanh nghiệp cần được nhìn nhận cả từ giá trị dữ liệu, mã nguồn, thuật toán và khách hàng, đồng thời chính sách cần linh hoạt, sát thực tiễn hơn.

Theo ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương), để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng mới, Việt Nam cần tạo đột phá về tư duy và thể chế phát triển. Trong đó, ưu tiên hoàn thiện khung pháp lý, mở rộng cơ chế thử nghiệm (sandbox) đối với các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo (AI), blockchain, dữ liệu mở và tài sản số, đồng thời thu hẹp khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn.
Bên cạnh đó, tiếp tục phát triển đồng bộ hạ tầng số, dữ liệu số, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp cận công nghệ, tài chính và thị trường để thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Giải quyết các điểm nghẽn tồn đọng
Tại diễn đàn, các diễn giả chỉ ra, kinh tế số đang nổi lên là động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. Giai đoạn 2020-2025, tỷ trọng kinh tế số trong GDP tăng từ 12,66% lên hơn 14%, tương đương quy mô trên 70 tỷ USD. Đáng chú ý, tốc độ tăng trưởng của khu vực này luôn cao hơn mức tăng GDP chung, phản ánh xu hướng chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, hiện nhiều điểm nghẽn đang cản trở quá trình phát triển, gồm thể chế chưa theo kịp thực tiễn, hạ tầng số và dữ liệu chưa đồng bộ, năng lực công nghệ của doanh nghiệp còn hạn chế và thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Theo GS.TS Tô Trung Thành, Phó Giám đốc Đại học Kinh tế Quốc dân, kinh tế số không chỉ là ứng dụng công nghệ, mà là quá trình tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Dữ liệu, nền tảng số và tri thức sẽ dần trở thành những tài sản cốt lõi của doanh nghiệp, tạo ra giá trị và năng suất mới cho nền kinh tế.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Nhật Quang, Viện trưởng Viện Khoa học Công nghệ (VINASA) cho rằng, dư địa tăng trưởng lớn nhất nằm ở việc đưa AI và công nghệ số vào các ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, logistics và dịch vụ, qua đó nâng cao năng suất và giá trị gia tăng thay vì chỉ tập trung phát triển các sản phẩm công nghệ.
Các chuyên gia thống nhất quan điểm, để hiện thực hóa mục tiêu kinh tế số chiếm tối thiểu 30% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết số 57-NQ/TW, cần tạo cú hích về thể chế, phát triển hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu, nguồn nhân lực số và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo gắn kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu, góp phần nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững.

Doanh nghiệp là trọng tâm của không gian số mới
Ông Nguyễn Hoa Cương, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược (Ban Chính sách, chiến lược Trung ương) nhấn mạnh, không gian chính sách mới đang tạo hành lang pháp lý thuận lợi để nền kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp phát triển, khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế số.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, theo nghĩa rộng nhất, kinh tế số là quá trình số hóa và ứng dụng nền tảng số vào tất cả ngành nghề truyền thống. Nói cách khác, đây là việc sử dụng công cụ, khái niệm và tiến bộ công nghệ để mở rộng kinh tế số ở quy mô lớn.
Với cách tiếp cận này, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược đánh giá tiềm năng phát triển kinh tế số còn rất lớn. Trong thế giới phẳng, thị trường xuyên biên giới giúp doanh nghiệp kết nối với người tiêu dùng trên toàn thế giới nhanh chóng.
Đặc biệt, các nền tảng mạng xã hội và thanh toán không dùng tiền mặt đã trở thành công cụ kinh doanh đắc lực cho doanh nghiệp. Cùng với đó, những nguồn lực mới như AI và dữ liệu đang được nhiều doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng để thay thế nhân lực và tối ưu hóa đầu vào.
Dẫn số liệu từ Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), ông Nguyễn Hoa Cương cho biết tổng doanh thu kinh tế số ASEAN giai đoạn 2019-2025 đã vượt 300 tỷ USD và dự kiến đạt 1.000 tỷ USD vào năm 2030. Con số này có thể tăng gấp đôi lên 2.000 tỷ USD nếu Hiệp ước Khung kinh tế số ASEAN (DEFA) được thông qua.

Tại Việt Nam, khoảng 85,6 triệu người sử dụng internet và số lượng này tiếp tục gia tăng qua các năm, góp phần thúc đẩy kinh tế số phát triển.
Theo Báo cáo e-Conomy SEA 2025 do Google, Temasek và Bain & Company, Việt Nam là nền kinh tế số có tốc độ phát triển nhanh thứ hai tại Đông Nam Á. Quy mô kinh tế số Việt Nam đạt 39 tỷ USD năm 2025, với mức tăng trưởng hai con số trên nhiều lĩnh vực.
Thương mại điện tử tiếp tục là trụ cột khi chiếm tới 2/3 tổng giá trị hàng hóa kinh tế số. Số người Việt Nam mua hàng trực tuyến đạt 24,3 triệu, chiếm gần 1/4 dân số, với tổng doanh thu tiêu dùng đạt 13,8 tỷ USD.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội lớn, ông Nguyễn Hoa Cương cũng chỉ ra những thách thức nội tại đối với phát triển kinh tế số Việt Nam.
Theo Báo cáo Business Ready (B-READY) 2025 của Ngân hàng Thế giới được ông dẫn lại, chỉ số dịch vụ tài chính của Việt Nam năm 2025 xếp hạng 5/30 nền kinh tế châu Á và thứ 15/101 nền kinh tế trên toàn cầu. Chỉ số dịch vụ tiện ích như điện, nước, hạ tầng viễn thông của Việt Nam cũng đứng thứ 3 châu Á và thứ 4 thế giới.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Hoa Cương nhận diện hạn chế về năng lực cạnh tranh, nhất là ở doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khả năng tiếp cận tài chính khó khăn cũng là rào cản đối với hoạt động, mở rộng đầu tư, đáp ứng yêu cầu đổi mới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Theo ông Nguyễn Hoa Cương, các nhóm chính sách tạo động lực tăng trưởng mới không chỉ cần đầy đủ mà còn phải được cụ thể hóa thành văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành.
Quan trọng hơn, cơ quan và tổ chức thực thi cần có tâm thế sẵn sàng hỗ trợ doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp cảm nhận được sự thân thiện và dễ thực thi của chính sách.
"Cần sử dụng ngân sách nhà nước hiệu quả để từ đó huy động tốt hơn nguồn lực xã hội. Đặc biệt, các chính sách thực thi phát triển kinh tế số cần đặt doanh nghiệp vào vị trí trọng tâm để việc hỗ trợ đạt hiệu quả", ông Nguyễn Hoa Cương nhấn mạnh.
Thu Trang






















