Xuất khẩu bứt phá mạnh, sầu riêng đông lạnh trở thành động lực mới
Tại nhiều vùng trồng trọng điểm ở Tây Nguyên và Đồng bằng sông Cửu Long, không khí thu hoạch đang diễn ra sôi động. Các vùng chuyên canh sầu riêng tại Lâm Đồng, Đồng Nai, Đồng Tháp, Vĩnh Long hay Tiền Giang bước vào vụ thu hoạch với sản lượng lớn phục vụ cả tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Hệ thống kho lạnh, nhà đóng gói và trung tâm logistics hoạt động liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu giao hàng gia tăng từ các thị trường quốc tế.

Theo số liệu từ cơ quan chức năng, trong quý I/2026, xuất khẩu sầu riêng của Việt Nam tăng khoảng 230% so với cùng kỳ năm trước. Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất khi giá trị xuất khẩu tăng gần 400%. Bên cạnh đó, nhiều thị trường có yêu cầu cao về chất lượng và kiểm dịch cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng mạnh như Hàn Quốc, Mỹ, Australia và Nhật Bản.
Sự tăng trưởng này cho thấy ngành sầu riêng Việt Nam đang từng bước cải thiện năng lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, từ kiểm soát chất lượng vùng trồng đến truy xuất nguồn gốc và quy trình đóng gói.
Đáng chú ý, nhóm sản phẩm sầu riêng đông lạnh đang nổi lên như động lực tăng trưởng mới của ngành hàng. Nếu trước đây xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào sầu riêng tươi thì nay nhiều doanh nghiệp đã đầu tư mạnh vào công nghệ cấp đông, kho lạnh và chế biến sâu nhằm kéo dài thời gian bảo quản, đa dạng sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Giá trị xuất khẩu của sầu riêng đông lạnh hiện cao hơn đáng kể so với sầu riêng tươi nhờ khả năng bảo quản lâu, thuận tiện vận chuyển và phù hợp với nhu cầu tiêu dùng tại nhiều quốc gia. Điều này cũng phản ánh xu hướng chuyển dịch của ngành sầu riêng từ tăng trưởng theo sản lượng sang chú trọng chất lượng và giá trị gia tăng.
Tại các vùng sản xuất lớn, nhiều nông dân đã thay đổi phương thức canh tác theo hướng chuyên nghiệp hơn. Việc ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, sử dụng phân bón hợp lý và tuân thủ quy trình kỹ thuật đang trở thành yêu cầu bắt buộc đối với các vùng trồng phục vụ xuất khẩu.
Song song với đó, hệ thống mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói tiếp tục được mở rộng và siết chặt quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc từ các thị trường nhập khẩu.
Hướng tới thị trường Ấn Độ, thúc đẩy tăng trưởng bền vững
Một trong những điểm đáng chú ý nhất của ngành sầu riêng Việt Nam trong năm nay là kế hoạch chính thức xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ từ tháng 7/2026. Đây được xem là bước tiến quan trọng khi Ấn Độ là quốc gia có quy mô dân số lớn thứ hai thế giới với nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng.
Theo các chuyên gia, việc tiếp cận được thị trường Ấn Độ cho thấy năng lực đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật và kiểm dịch của sầu riêng Việt Nam đã được cải thiện đáng kể. Đồng thời, việc mở rộng thêm thị trường xuất khẩu cũng giúp giảm phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống, tạo nền tảng ổn định hơn cho tăng trưởng dài hạn.
Để chuẩn bị cho giai đoạn phát triển mới, ngành nông nghiệp đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý đối với mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói và quy trình kiểm soát chất lượng. Các quy định mới được kỳ vọng sẽ tăng tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm của các bên tham gia chuỗi sản xuất và xuất khẩu.
Bên cạnh mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu, ngành sầu riêng cũng đang hướng tới mô hình sản xuất bền vững hơn. Nhiều địa phương bắt đầu triển khai các giải pháp giảm phát thải trong canh tác, cải tạo đất, hạn chế lạm dụng hóa chất và tối ưu chi phí đầu vào.
Theo các chuyên gia, xu hướng nông nghiệp xanh và sản xuất có trách nhiệm sẽ ngày càng trở thành tiêu chí quan trọng tại các thị trường nhập khẩu lớn. Vì vậy, việc chuyển đổi sang mô hình canh tác bền vững không chỉ giúp nâng cao giá trị sản phẩm mà còn tạo điều kiện để nông sản Việt tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Từ một loại trái cây chủ lực phục vụ xuất khẩu sang Trung Quốc, sầu riêng Việt Nam đang dần khẳng định vị thế tại nhiều thị trường quốc tế nhờ chiến lược nâng cao chất lượng và đa dạng hóa sản phẩm. Thành công trong những tháng đầu năm 2026 cho thấy ngành hàng này đang bước vào giai đoạn phát triển mới, không chỉ tăng nhanh về sản lượng mà còn hướng tới giá trị gia tăng, tính bền vững và khả năng cạnh tranh dài hạn trên thị trường toàn cầu.
Nam Sơn (t/h)
























